HÀNH TR̀NH ĐỨC TIN, ĐỨC CẬY, VÀ ĐỨC MẾN

“Hiện nay, Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là Đức Mến” (1Cor. 13:13).

Quư Anh Chị Cursillista thân yêu,

Đặc biệt trao về Tân Cursillista 2 Khóa 45 và 46 Adelaide rất quư yêu trong Thầy Chí Thánh.

Đời của mỗi người Cursillista là một cuộc lữ hành Niềm Tin trên dương gian. Lữ Hành Niềm Tin của Cursillista trong Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến theo Thánh Phaolô, Bổn Mạng Phong Trào Cursillo hướng dẫn: “Hiện nay, Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là Đức Mến” (1Cor. 13:13). Trong Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến, trải dài xuyên suốt những năm tháng c̣n lại của cuộc đời, tâm tư của người Cursillista, nhất là quư Anh Chị Tân Cursillista đôi khi cảm thấy băn khoăn, lo lắng, và sợ hăi. Trong Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến của cuộc đời lữ hành này, tôi cũng có tâm trạng như quư Anh Chị. Nhưng qua câu xác tín của ngày lănh nhận Sứ Vụ Lệnh “Chúa Kitô tin tưởng nơi con - Và con trông cậy vào Ơn Thánh Chúa” như một nâng đỡ và đồng hành của Thầy Chí Thánh cùng tôi. Tôi được nâng đỡ và ấp ủ qua câu Thầy khích lệ tôi trong hành tŕnh này: “THẦY ĐÂY ĐỪNG SỢ” (Mt. 14:24).

Những ngày giúp Khóa Nữ 46 tại Adelaide, với con số 42 Khóa Sinh, như một Linh Hướng, tôi nhớ lại những hồng ân Thầy ban cho tôi được làm trợ tá. Gặp gỡ những Khóa Sinh thân yêu, để cùng chia sẻ những thao thức và suy . Khóa Sinh cũng giống như tôi kỳ mới chập chững những bước đầu đời của Ngày Thứ Tư. Vẫn nhiều lo lắng và sợ sệt. Nhưng với ơn Thầy ban như một khẳng định: “Thầy đây, đừng sợ” (Mt. 14:24), tôi muốn chia sẻ những tâm tư của ḿnh với quư Anh Chị Cursillista.

Thánh Phaolô đă từng tin tưởng, cậy trông, và yêu mến Thầy. Ngài cũng tin tưởng vào lời Thầy khích lệ: “Thầy đây, đừng sợ”. Trong Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến, Ngài đă bôn ba rao giảng Tin Mừng qua 4 cuộc hành tŕnh:

Lần đầu với Barnaba và Matcô đến Cyprus rồi cùng Barnaba đi qua vùng ven biển phía nam của Tiểu Á. Lần thứ hai với Sila và Timôtê tiến về Tây bắc Tiểu, xuyên qua Macedonia, mang Tin Mừng cứu độ đến Châu Âu. Trong hành tŕnh này Ngài cũng thăm viếng các thành phố Hylạp như Corinto và Thessolonica. Lần thứ ba tương tự như lần thứ hai. Bất chấp những nguy hiểm thử thách, Ngài tranh luận hùng hồn về ơn cứu độ, sự chết và sự Phục sinh của Chúa Giêsu. Ngài là khởi điểm một mối liên hệ mới giữa Thiên Chúa và loài người. Điều này làm nhiều người bực tức đưa đến việc ngược đăi, tra tấn, tù đày, như trong thư thứ hai gởi tín hữu Corinto: “Nhiều lần bị tù đầy, đánh đập, năm lần tôi bị người Do Thái đánh đ̣n ba mươi chín trượng; ba lần bị tra tấn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi. Tôi c̣n hơn họ, v́ phải thực hiện nhiều cuộc hành tŕnh, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm v́ dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi c̣n phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt, trần truồng. Không kể các điều khác, c̣n có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh” (2Cr1:23,32).

Lần cuối bị điệu về tới Roma xét xử .Tại đây vào năm 67 Ngài bị xử trảm, là tội nhân, xác của Ngài được chôn cất ở ngoại thành Roma. Ngài đă không hổ thẹn rao giảng Tin mừng (Rom 1:16) v́ Ngài thâm tín rằng dù sự sống hay sự chết, dù Thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, hay quyền năng, dù chiều cao hay chiều sâu, hay bất cứ tạo vật nào khác, không có ǵ tách chúng ta ra khỏi ḷng mến của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (Rom 8:38,39).

Cuộc đời ngày Thứ Tư của Người Cursillista như trên một vận động trường. Mỗi người là một lực sĩ tranh tài trên từng biến cố của cuộc sống, trên từng bổn phận của đời người. Có nhiều ưu tư, có nhiều xao xuyến, có nhiều âu lo, trải dài theo tháng ngày của cuộc sống, của bổn phận, của tương lai. Đức Kitô hiểu được hoàn cảnh của mỗi người Cursillista. Trong Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến của một Cursillista, Ngài đồng hành và trấn an tôi đừng sợ. Ngài vẫn nói với tôi: “Đừng sợ người ta bắt bớ các con” (Mt. 10:26). Khi chạm trán với những khó khăn vây bủa quanh tôi, bóng tối và đe dọa, Ngài trấn an: “Các con đừng sợ những người chỉ giết được thân xác” (Mt.10:28, Lc. 12:4). Khi gặp những nghi nan trăn trở, những hoài nghi giống như Madalêna và Maria khi đến mồ Thầy Chí Thánh và thấy mồ trống với những hoài nghi len lén trong tâm hồn, Ngài lại trấn an: “Đừng hoảng sợ” (Mc. 16:6). Khi bị chao đảo, lạc hướng bởi những âm mưu, những tin đồn, những chống đối, những thử thách, Ngài ôn tồn trấn an các môn đệ yêu quư: “Ḷng chúng con đừng xao xuyến, hăy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Jn. 14:1). Khi các môn đệ c̣n nhiều xao xuyến và hoang mang về cái chết kinh hoàng của Thầy ḿnh. Bao nhiêu âu lo, bao nhiêu buồn thảm, bao nhiêu xỉ nhục, bao nhiêu dằn vặt. Ngài lại nhiều lần trấn an các môn đệ: “Hăy can trường lên” (Jn. 17:33). Và như một xác tín, một lời hứa, một cam đoan đồng hành trong suốt Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến của một Cursillista, Thầy Chí Thánh Giêsu Kitô khẳng định: “Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt. 28:10).

Thầy đây đừng sợ. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô khi chấp nhận phong thánh cho 120 Thánh Tử Đạo của Trung Hoa ngày 1.10.2000, với 87 Thánh người Hoa và 33 Thừa sai. Vị Thánh trẻ nhất 7 tuổi và già nhất 79 tuổi, bất chấp sự phản đối của nhà cầm quyền Cộng Sản Trung Hoa. Trong Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến, Ngài cũng không nao núng.

Thầy đây đừng sợ. Ngày 19.9.2000, khi Đức Hồng y Michele Giordanô cử hành lễ kính Thánh Januarius tại Naples, máu khô của Thánh Januarius hóa lỏng trước cả ngàn người như một thách đố của thời đại: “Thánh Januarius luôn kêu gọi mỗi người chúng ta dấn thân quyết liệt để bảo vệ cho tự do và những giá trị cao cả”.

Trong Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến, nhiều khi tôi sợ chính tôi. Tôi sợ tôi không có đủ tài để theo Thầy. Tôi sợ những yếu hèn của tôi. Tôi sợ tôi không xứng đáng với hồng ân của Thầy dành cho tôi trong Khóa 3 ngày. Tôi sợ Thầy gọi tôi và trao cho nhiệm vụ này nhiệm vụ nọ. Tôi sợ tôi thiếu khả năng. Tôi sợ tôi không có thời giờ. Tôi sợ tôi không làm nổi nhiệm vụ và trách nhiệm Thầy trao. Tôi sợ tôi. Nhưng bây giờ tôi hiểu được Thầy vẫn luôn bên cạnh tôi và trấn an tôi: “Thầy đây đừng sợ, hăy can trường lên”. Tôi khám phá ra ḿnh đầy yếu đuối, đầy khuyết điểm, đầy thiếu sót. Nhưng tin vào lời trấn an của Thầy như một Phêrô: “Vâng lời Thầy, chúng con thả lưới” (Lc. 5:5). Tôi sẽ không c̣n sợ tôi nữa, mặc dù có những bất toàn và yếu đuối. Tôi chỉ là dụng cụ nhỏ bé của Thầy. Mẹ Terexa Calcutta từng khẳng định: “Tôi chỉ là cây viết ch́ của Chúa”. Mẹ cũng đă không sợ, bởi Mẹ đă tin vào lời hứa của Chúa: “Thầy đây, đừng sợ” (Mt. 14:24).

Trong Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến, tôi không sợ tha nhân. V́ tha nhân là anh chị em của tôi mời gọi tôi yêu thương trong Đức Mến. Tôi không sợ Chúa, nhưng tôi yêu Chúa, v́ Chúa là cha tôi. Trong hành tŕnh đời tôi, tôi cũng sẽ không sợ, v́ Thầy đă nhắn nhủ tôi: “Thầy đây, đừng sợ” (Mt. 14:24). Thầy là người tiếp sức mạnh và bù đắp lại cho tôi những ǵ tôi khuyết điểm, những ǵ tôi c̣n thiếu sót. Tôi cũng sẽ không sợ bởi Thầy luôn đồng hành bên tôi. Tôi sẽ quyết tâm cố gắng và đồng hành với Thầy trên từng cây số cuộc đời trong Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến.

Thánh Phaolô đă từng tâm đắc lời Thầy: “Thầy đây, đừng sợ”. Khi Ngài gặp bao nhiêu thử thách gian lao: “Tôi c̣n phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt, trần truồng. Không kể các điều khác, c̣n có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh” (2Cr. 1:23,32).

Nhớ lại những chia sẻ cảm nghiệm của quư Chị Em Tân Cursillista Khóa 46, tôi đọc được những quyết tâm dấn thân trong Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến của người Cursillista. Chị Rosa Bùi Thị Hiên đă khám phá ra t́nh Chúa T́nh người qua Khóa, và quyết tâm sẵn sàng theo Chúa. Chị Maria Hồ Thị Thanh đă học được sự nhẫn nại hy sinh và khiêm nhường của các Trợ Tá và quyết tâm dấn thân để phục vụ, hy sinh, và sống bác ái. Chị Maria Tống Thị Thanh bắt gặp ánh mắt của Chúa luôn nh́n chị và thay đổi chị, để quyết tâm lên đường với Thầy. Chị Maria Đỗ Thị Kim Liên khám phá ra “Một tay nắm lấy Chúa, một tay nắm lấy anh chị em” để đồng hành và quyết tâm lên đường. Cô bé Cursillista Anna Maria Vũ Thị Bích Trâm khám phá ra t́nh yêu Thầy qua các chứng nhân là các Cursillista tại Canberra, và quyết tâm sống đời cầu nguyện gần gũi với Thầy. Cô bé Cursillista Lucia Nguyễn Susanne, với 22 tuổi đời, đă lắng nghe và hiểu được ư Thầy và quyết tâm sau khóa cùng Thầy sống phục vụ yêu thương. Chi Hồng đă cảm nghiệm được hồng ân của Thầy qua sự kiện mẹ đau nặng và khám phá ra t́nh yêu của Thầy qua các Trợ Tá, để quyết tâm dấn thân lên đường phục vụ. Chị Maria Đinh Thị Liên qua hành tŕnh Sùng Đạo, Học Đạo, và Hành Đạo, chị thấy vui tươi hạnh phúc và lên đường với tâm tư ước mơ là cây viết ch́ của Thầy để yêu thương và phục vụ. Chị Teresa Nguyễn Châu Bích Hằng cảm nghiệm được quyết tâm trung thành với ơn gọi Cursillo. Chị Maria Lương Thị Xuyến đă thực hành cầu nguyện nhiều trong Khóa, và quyết tâm sẽ sống cầu nguyện nhiều hơn và xin thực hiện những điều nhỏ nhoi để phục vụ trong môi trường gia đ́nh và cộng đoàn. Cô bé Cursillista Maria Lê Thị Thùy Trang cảm nhận được t́nh yêu Thầy, quyết tâm từ giă những lơ là niềm tin xưa kia, để quyết tâm đồng hành với Thầy... Qua những chia sẻ cảm nghiệm tâm t́nh này, tôi càng xác tín cùng Thầy lên đường trong Trong Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến của một Cursillista.

Trong Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến, tôi cũng sẽ kiên cường lên đường và trở về với bổn phận giống như một Phêrô trong câu chuyện “Quo Vadis? Lạy thầy, Thầy Đi Đâu?” Trong cuộc bách hại Đạo Công Giáo tại Rôma trong giai đoạn khủng khiếp nhất, Phêrô sợ hăi và trốn tránh bổn phận, bằng cách trốn thoát ra ngoài thành Rôma. Trên đường chạy trốn, Phêrô thấy Thầy Chí Thánh vác cây Thập Tự đi ngược chiều về hướng Rôma. Phêrô hỏi Thầy: “Quo Vadis? Lậy Thầy, Thầy Đi Đâu?” Thầy trả lời: “Ta trở lại thành Rôma để chết thay cho con lần thứ 2”. Hiểu được ư của Thầy muốn Phêrô trở lại Rôma v́ bổn phận, Phêrô đă hiên ngang trở lại Rôma. Tại đây, Ngài được Tử Đạo vào năm 64 trong khi thi hành chức vụ Giáo Hoàng Tiên Khởi.

Như vậy, trong Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến của một Cursillista trong xuyên suốt Ngày Thứ Tư, Thầy nhiều lần nhắn nhủ tôi: “Thầy đây, đừng sợ” (Mt. 14:27). Cuộc đời của tôi từ nay sẽ không c̣n sợ hăi, bởi Thầy đồng hành bên tôi trong niềm tin yêu, trông cậy, và thương mến của t́nh bác ái, như Thánh Phaolo đă xác quyết: “Hiện nay, Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là Đức Mến” (1Cor. 13:13).

Thầy đi với tôi. Thầy làm việc với tôi. Thầy chịu khổ với tôi. Thầy đau ốm với tôi. Thầy chu toàn bổn phận với tôi...Thầy là tất cả cho tôi. Tôi sẽ quyết tâm hơn thực thi Đức Tin, Đức Cậy, và quan trọng hơn tất cả là Đức Mến, để tôi sống trọn vẹn và dồi dào trong t́nh yêu của Thầy Chí Thánh và t́nh yêu thương đồng loại như Thầy đă nhắn nhủ tôi: “Cứ dấu này mà mọi người nhận biết chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con hăy yêu thương nhau” (Jn. 13:35).

Tôi quyết tâm, hăng say, và dấn thân lên đường để sống trọn vẹn niềm vui ơn cứu độ mà Thầy đă dành cho tôi và mỗi người Cursillista trong Hành Tŕnh Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến.

Thân ái trong Thầy Chí Thánh Giêsu Kitô và Hiền Mẫu Maria Từ Ái.

Decolores.

Linh Mục Paul Chu Văn Chi.

Linh Hướng PT Cursillo Liên Bang Úc Châu.