LÁ THƯ LINH HƯỚNG

 

LÁ THƯ LINH HƯỚNG
Sydney ngày 5.7.2011.
Decolores,

Quý Anh Chị Cursillista rất thân yêu,
Người bạn đồng hành thương mến trong Thầy Chí Thánh,

Với tháng 7 của Mùa Đông Úc Châu, Phong Trào Cursillo chúng ta cùng nhau chia sẻ chủ đề: "Gia Đình: Lao Công và Ngày Lễ." Câu ý lực cho cuộc sống Ngày Thứ Tư trong tháng 7 chú tâm vào ý nghĩa: "Của Cesar trả về cho Cesar, của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa." (Mt. 22:21). Trong tâm tình chia sẻ, tôi nhớ ngay đến hình ảnh Thánh Phaolô, Bổn Mạng của Phong Trào mà chúng ta mới mừng Ngài trong dịp tháng 6 vừa qua, ghi dấu 20 năm Phong Trào Cursillo có mặt chính thức tại Australia, với Văn Phòng Lâm Thời đầu tiên 1991-1992. Thánh Phaolô đã làm gương cho chúng ta về đời sống lao động kết hợp với công việc Rao Giảng Tin Mừng của Ngài. Ngài đã dành cho Thiên Chúa phần ưu tiên đặc biệt của đời sống Ngài. Ngài cũng không quên Thánh Hóa bản thân và Phúc Âm Hóa môi trường trong suốt cả hành trình Niềm Tin của Ngài nơi dương gian. Ngài quả thật là một mẫu mực cho đời sống của mỗi Cursillista chúng ta. Trong buổi Triều Yết Chung tại Quảng Trường Thánh Phêrô, ngày 25 tháng 10, 2006, Đức Thánh Cha Benedictô XVI đã chia sẻ Mẫu Gương Thánh Phaolô như sau:

"Thánh Phaolô là người đầu tiên đã được Chính Chúa, Đấng Phục Sinh, gọi làm một Tông Đồ thật, chính là Thánh Phaolô thành Tarsus. Ngài nổi bật như một ngôi sao sáng nhất trong lịch sử Hội Thánh, nếu không nói là trong việc thành lập Hội Thánh. Thánh Gioan Kim Khẩu ca tụng ngài như một người cao trọng hơn nhiều thiên thần và tổng lãnh thiên thần. Dante Aligheiri trong Hài Kịch của Thiên Chúa (Divine Comedy), cảm hứng bởi câu truyện Thánh Luca kể trong Tông Đồ Công Vụ (9:15), đã diễn tả Ngài cách đơn giản là “cái bình được chọn”, có nghĩa là: một dụng cụ được Thiên Chúa chọn. Những người khác gọi ngài là “Vị Tông Đồ Thứ 13”, hay cách trực tiếp, “vị trước nhất sau vị Duy Nhất.”

Thánh Luca cho chúng ta biết tên Ngài trước kia là Saulô (TĐCV 7:58; 8:1), cũng là Saulê trong tiếng Do Thái, như Vua Saulê (TĐCV 13:21), và Ngài là người Do Thái lưu vong, vì thành Tarsus tọa lạc giữa Anatolia và Syria. Ngài xuống Giêrusalem rất sớm để học tận gốc Luật Môi Sen theo chân Vị Thầy nổi danh là Gamaliel (TĐCV 22:3). Ngài cũng học một nghề thủ công và phổ thông để lao công, đó là công việc là đan lều (TĐCV 18:3), mà sau này giúp Ngài tự cung cấp cho mình để không trở thành gánh nặng cho Hội Thánh. (1Cor 4:12; 2Cor 12:13).

Chính trên đường đi Đamascô vào đầu thập niên 30 mà theo lời Ngài: “Đức Kitô đã làm cho tôi thuộc về Người.” (Phil 3:12). Trong khi Thánh Luca kể lại sự kiện với nhiều chi tiết, như ánh sáng của Chúa Phục Sinh đã chạm đến Ngài và biến đổi đời Ngài thế nào. Trong các Thư Ngài nhắc đến điểm căn bản mà không chỉ nói về thị kiến (1Cor. 9:1), mà còn về một sự soi sáng (2Cor 4:6), và trên hết về một mặc khải và một ơn gọi trong cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh. (Gal 1:15-16). Thực ra, Ngài đã định nghĩa cách dứt khoát mình là “một tông đồ bởi ơn gọi.” (Rom 1:1; 1Cor 1:1), hay “tông đồ do Thánh Ý Thiên Chúa.” (2 Cor 1:1; Eph 1:1; Col 1:1), để nhấn mạnh rằng cuộc trở lại của Ngài không phải là kết quả của một sự mở mang tư tưởng hay suy tư, nhưng là kết quả của sự can thiệp của Thiên Chúa, một ân sủng không thể lường được của Ngài.

Và từ giây phút ấy, Ngài dồn toàn lực vào việc phục vụ một mình Đức Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người mà thôi. Sự hiện hữu của Ngài phải trở nên sự hiện hữu của một vị Tông Đồ muốn “trở nên mọi sự cho mọi người” (1 Cor 9:22), không giữ lại điều gì cho mình. Từ đó Cursillista rút ra một bài học rất quan trọng: điều chính yếu là đặt Đức Kitô ở trọng tâm của đời sống mình, để căn tính của mình được đánh dấu cách rõ ràng bằng cuộc gặp gỡ Đức Kitô, qua việc kết hiệp thông với Đức Kitô và với Lời của Người. Trong ánh sáng cùa Người các giá trị Gia Đình, Lao Công, Ngày Lễ, Phúc Âm Hóa Môi Trường, Sống Ngày Thứ Tư, được hài hòa, thăng hoa, và đồng hành.

Điểm khởi hành của các cuộc hành trình truyền giáo của Ngài là Hội Thánh ở Antiôkia nước Syria, nơi mà lần đầu tiên Tin Mừng được rao giảng cho người Hy Lạp và danh xưng “Kitô hữu” được đặt cho những người tin vào Đức Kitô. (TĐCV 11:20,26). Từ đó, Ngài đi Cyprus, rồi vào dịp khác, đến các miền của Tiểu Á: Pisidia, Laconia, Galatia, và sau đó đến các vùng ở Âu Châu: Maceđonia và Hy Lạp. Các thành phố thời danh nhất là Êphêsus, Phillipi, Thessalônica, Côrinthô, mà không quên Berêa, Athens và Milêtus. Trong việc tông đồ của Thánh Phaolô cũng không thiếu gì những khó khăn mà Ngài đã can đảm đương đầu vì yêu mến Đức Kitô. Chính Ngài đã nhắc lại phải chịu đựng: “Vất vả… tù đầy… đánh đập… nhiều lần chạm trán với tử thần…. Ba lần bị đánh đòn bằng roi, một lần bị ném đá, ba lần đắm tầu, trải qua một đêm và một ngày trên biển cả; phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì Dân Ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em; tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng. Và không kể các điều khác, còn có những áp lực hằng ngày đè nặng trên tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh." (2Cor 11:23-28).

Từ một đoạn trong Thư gửi tín hữu Rôma (Rom. 15:24, 28) xuất hiện một đề nghị của Ngài là đi đến cả Tây Ban Nha, đến Phương Tây, để loan báo Tin Mừng khắp nơi, ngay cả đến tận chân trời mà người ta biết đến vào thời đó. Làm sao mà chúng ta không thán phục một con người như thế? Làm sao mà chúng ta không cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một vị Tông Đồ có một tầm vóc như vậy? Chắc chắn rằng Ngài đã không thể đương đầu với những khó khăn như thế và đôi khi trong hoàn cảnh tuyệt vọng, nếu Ngài đã không có một lý do để tin vào một giá trị tuyệt đối, mà trước giá trị cao quý đó, không một ngăn cách nào có thể được coi là không thể vượt qua được. Như chúng ta đã biết, đối với Thánh Phaolô lý do này là Đức Chúa Giêsu Kitô, mà Ngài đã viết về Người như sau: “Tình yêu của Đức Kitô thúc bách tôi… để những người đang sống không còn sống cho mình nhưng sống cho Đấng đã chết và sống lại vì họ” (2Cor 5:14-15), vì chúng ta và vì tất cả mọi người.

Thực ra, Thánh Tông Đồ đã làm chứng hùng hồn bằng máu của ngài dưới thời Hoàng Đế Nêrô  tại Rôma, là nơi đang giữ và tôn kính hài cốt của Ngài. Thánh Clêmentê thành Rôma, đã viết về ngài trong năm cuối cùng của thế kỷ thứ nhất: “Bởi vì lòng ghen tương và sự bất hòa mà Thánh Phaolô đã bắt buộc phải chỉ cho chúng ta làm thế nào để đạt được phần thưởng kiên nhẫn…. Sau khi rao giảng công lý cho toàn thế giới, và sau khi đã đến tận biên cương của Phương Tây, Ngài chịu tử vỉ đạo trước các nhà cầm quyền chính trị. Qua sự kiện này, Ngài từ bỏ cõi đời này và về đến nơi thánh, để trở thành mẫu gương cao quý về lòng kiên trì.”

Nguyện xin Thầy Chí Thánh Giêsu Kitô giúp chúng ta thực hành lời khuyên nhủ mà Thánh Tông Đồ Phaolô, Bổn Mạng Phong Trào Cursillo, để lại cho chúng ta trong các Thư của Ngài: “Anh chị em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Kitô” (1 Cor 11:1). Cursillista lên đường theo gương Thánh Phaolô để sống hài hòa trong môi trường Gia Đình: Lao Công và Ngày Lễ.

Thân ái và yêu thương xiết chặt vòng tay Quý Anh Chị trong tình yêu Thầy Chí Thánh.

Mến chào Quý Anh Chị.

Decolores.
Linh Mục Phaolô Chu Văn Chi.
Linh Hướng.