***

Trang Học hỏi về Giáo Hội
Tông huấn
NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN
(Christifideles Laici)
ĐGH Gioan Phaolô II

* * *

CHƯƠNG I

TA LÀ CÂY NHO, CÁC CON LÀ CÀNH

Phẩm giá của người Tín Hữu Giáo Dân trong Giáo Hội Mầu Nhiệm.

Một thân thể trong Đức Kitô

12. Được tái sinh trở thành"con trong người Con", những ai đã chịu phép Rửa Tội đều là "chi thể của Đức Kitô và cũng là thành phần trong nhiệm thể của Giáo Hội" theo như giáo huấn của Công Đồng Florence (17).

Phép Rửa Tội có ý chỉ và đồng thời phát sinh sự tháp nhập mầu nhiệm, nhưng thật sự vào thân thể bị đóng đinh và vinh hiển của Đức Giêsu Kitô. Nhờ Bí Tích ấy, Chúa Giêsu kết hợp người chịu phép Rửa Tội với cái chết của Ngài để kết hợp họ với sự sống lại của Ngài (Rom 6, 3-5), lột bỏ "con người cũ" để mặc cho họ "con người mới", nghĩa là chính Ngài: "Tất cả anh em đã được Rửa Tội trong Đức Kitô, anh em được mặc lấy chính Đức Kitô (Gal 3, 27; Eph 4, 22-24; Col 3, 9-10). Bởi đó "mặc dầu là số đông, chúng ta chỉ là một thân thể trong Đức Kitô" (Rom 12,5).

Các lời của thánh Phaolô là những tiếng vọng trung thực giáo huấn của chính Đức Kitô, nó đã mạc khải cho chúng ta thấy sự hợp nhất nhiệm mầu của các môn đệ với Ngài và giữa họ với nhau, trình bầy sự hợp nhất ấy như là hình ảnh và sự nối tiếp của sự thông hiệp nhiệm mầu giữa Chúa Cha với Chúa Con, và Chúa Con với Chúa Cha trong mối dây tình thương của Chúa Thánh Thần (Ga 17, 21). Chính Chúa Giêsu đã đề cập đến sự hợp nhất này khi Ngài dùng hình ảnh cây nho và cành nho: "Ta là cây nho, chúng con là cành" (Ga 15, 5). Một hình ảnh nói lên không những sự mật thiết sâu xa của các môn đệ với Chúa Giêsu, mà cũng biểu lộ sự thông hiệp sinh động giữa các môn đệ: tất cả đều là cành của một cây nho duy nhất.

Đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần.

13. Trong một hình ảnh so sánh khác là hình ảnh của một ngôi nhà, thánh Phêrô tông đồ đã định nghĩa các người đã chịu phép Rửa Tội như những "viên đá sống động" xây trên Đức Kitô là "viên đá góc". Vì thế, các người đã chịu phép Rửa Tội được dành riêng "xây đền thờ thiêng liêng" (1 Pt 2,5).

Hình ảnh này đưa chúng ta vào một khía cạnh mới lạ khác do phép Rửa Tội đem lại, mà Công Đồng Vatican II trình bày qua những lời sau đây: "Vì chưng những kẻ đã rửa tội, nhờ sự tái sinh và ơn xức dầu của Chúa Thánh Thần, họ được hiến dâng để trở nên một tòa nhà thiêng liêng" (18).

Chúa Thánh Thần "xức dầu" kẻ chịu phép Rửa Tội, đóng trên họ ấn tín không thể xóa bỏ (2 Cor 1, 21-22), làm cho họ trở thành đền thờ thiêng liêng, nghĩa là thông ban tràn đầy sự hiện diện của Thiên Chúa nhờ kết hợp và nên giống Đức Giêsu Kitô.

Người Kitô hữu, nhờ ơn "xức dầu" này làm cho mạnh dạn, có thể lặp lại những lời của Chúa Giêsu theo cách của mình "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài đã xức dầu thánh hiến tôi; sai tôi đem Tin Mừng cho kẻ nghèo khổ, loan tin giải phóng cho kẻ bị cầm tù, đem sự sáng cho kẻ đui mù, đem tự do cho kẻ bị áp bức, và loan báo năm Hồng ân của Chúa" (Lc 4, 18-19; Is 61, 1-2).

Như thế, nhờ ơn Chúa đổ tràn xuống qua phép Rửa Tội và phép Thêm Sức, người đã được rửa tội tham gia vào sứ mệnh của Đức Giêsu Kitô, Đấng Thiên Sai Cứu Thế.

THAM GIA VÀO CHỨC VỤ TƯ TẾ, RAO GIẢNG VÀ VƯƠNG GIẢ CỦA ĐỨC KITÔ.

14. Khi nói với những người đã chịu phép Rửa Tội, thánh Phêrô tông đồ xem họ như "những người con mới sinh", Người viết: "Chúng con hãy lại gần Ngài, Ngài là tảng đá hằng sống, mà loài người loại bỏ nhưng Thiên Chúa đã chọn vì Thiên Chúa đã thẩm định giá trị. Chúng con cũng thế, chúng con hãy trở nên những viên đá sống động dùng để xây dựng đền thờ thiêng liêng, dâng lên những của lễ thiêng liêng mà Thiên chúa có thể chấp nhận nhờ Đức Giêsu Kitô. Thật vậy, chính chúng con là dòng dõi được lựa chọn, là hàng tư tế vương giả, là một dân tộc thánh, một dân tộc thuộc về Thiên Chúa; như thế chúng con có trách nhiệm rao giảng những kỳ vọng của Đấng đã gọi chúng con từ bỏ bóng tối đến ánh sáng lạ lùng của Ngài" (1 Pt 2, 5-9).

Đó là một khía cạnh mới mẻ của ân sủng và của phẩm giá phép Rửa Tội. Người tín hữu giáo dân, về phần riêng họ cũng tham dự vào ba chức vụ của Đức Kitô, là chức tư tế, rao giảng và vương giả. Đây là khía cạnh mà truyền thống Giáo Hội không bao giờ lãng quên, như thánh Augustinô đã trình bày khi chú giải Thánh Vịnh 26: "Đavít nhận lãnh nghi lễ xức dầu làm Vua. Trong thời ấy chỉ có Vua và Tư Tế được xức dầu. Hai vị này tiên báo hình ảnh vị Vua - Thượng Tế độc nhất - Đức Kitô (tiếng Kitô bởi chữ "Chrisma" có nghĩa là xức dầu). Không chỉ vị thủ lãnh của chúng ta, là thân thể của Ngài, chúng ta cũng được xức dầu với Ngài... Vì thế mọi Kitô hữu đều được xức dầu, trái với thời Cựu Ước chỉ có hai người được xức dầu. Nếu chúng ta là thân thể Đức Kitô, vì tất cả chúng ta được xức dầu trong Ngài và trở thành một Đức Kitô trọn vẹn" (19).

Theo đường lối của Công Đồng Vaticanô II (20), ngay từ khi mới bắt đầu công việc mục vụ, Ta đã lưu ý ca tụng phẩm chức tư tế, rao giảng và vương giả của toàn dân Thiên Chúa. Ta nói: "Đấng đã sinh ra bởi Trinh Nữ Maria, Con của bác thợ mộc theo người đời ấy nghĩ tưởng, nhưng là Con Thiên Chúa hằng sống như thánh Phêrô tuyên bố, đã đến để làm cho chúng ta tất cả trở nên "một vương quốc linh mục". Công Đồng Vaticanô II đã nhắc nhở cho chúng ta về mầu nhiệm của quyền bính này, và về sứ mạng của Đức Kitô là Linh Mục, là Thầy rao giảng, là Vua vẫn tiếp tục trong Giáo Hội. Tất cả mọi người, toàn dân Thiên Chúa tham gia vào ba sứ mệnh này" (21).

Với bức Tông Huấn này, Ta muốn kêu mời một lần nữa tất cả mọi tín hữu giáo dân đọc lại và suy ngắm, để lãnh hội một cách tường tận và yêu mến say mê giáo huấn súc tích và phong phú của Công Đồng đề cập đến về việc họ tham gia vào ba chức vụ của Đức Kitô (22). Và đây là một tổng hợp những căn bản của giáo huấn ấy.

Các tín hữu giáo dân tham gia vào trách vụ tư tế; đó là trách vụ Chúa Giêsu đã dùng để hiến tế mình trên Thánh Giá và còn tiếp tục hiến tế mình trong nghi lễ phép Thánh Thể để làm vinh danh Đức Chúa Cha và cứu rỗi nhân loại. Được ghép vào Đức Giêsu Kitô, những ai đã được chịu phép Rửa Tội đều được kết hợp với Ngài bằng việc dâng hiến chính mình và các hoạt động của mình (Rom 12, 1-2). Khi nói đến người tín hữu giáo dân, Công Đồng tuyên bố: "Tất cả những hoạt động của họ, những lời cầu nguyện cũng như các hoạt động tông đồ, đời sống hôn nhân, gia đình, những công việc lao động hằng ngày, các việc giải trí, tinh thần thể xác, nếu tất cả đều được hướng dẫn do Thần Linh Thiên Chúa, ngay cả những thử thách của cuộc đời, miễn là chịu đựng một cách nhẫn nại, tất cả trở thành của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô (1 Pt 2,5). Trong Thánh Lễ, các của lễ này hiệp với Mình Chúa được dâng lên cho Đức Chúa Cha với tâm hồn sốt sắng. Như thế người giáo dân thánh hiến cho Thiên Chúa chính cả trần thế này. Nhờ lòng phụng thờ Chúa khắp mọi nơi bằng một đời sống thánh thiện" (23).

Việc tham gia vào trách vụ rao giảng của Đức Kitô "là Đấng lấy cả cuộc sống mình cũng như lấy sức mạnh của lời nói để tuyên bố vương quốc Chúa Cha" (24), sự tham gia này làm cho người giáo dân có đủ năng cách và dấn thân để nhận lãnh Phúc Âm trong Đức Tin, để rao giảng bằng lời nói và hành động, và để tố cáo một cách bạo dạn không do dự những gì là điều ác. Người tín hữu giáo dân hợp nhất với Đức Kitô "vị đại Tiên Tri" (Lc 7, 16) và được đặt làm "chứng nhân" của Đức Kitô Phục Sinh trong Chúa Thánh Thần, họ trở thành những người tham dự vào ý thức Đức Tin siêu nhiên của Giáo Hội "không thể sai lầm trong Đức Tin" (25) cũng như tham gia vào ân sủng của lời nói (Cv 2, 17-18; Ap 19, 10). Hơn nữa họ được gọi để chiếu sáng sự mới lạ và sức mạnh của Phúc Âm trong đời sống thường ngày, trong đời sống gia đình và xã hội của họ, cũng như để diễn tả niềm hy vọng vinh quang "ngay cả trong những cơ cấu của cuộc sống trần thế" (LG 35) với một tâm hồn nhẫn nại và can đảm giữa những khó khăn của thời hiện đại (26).

Người tín hữu giáo dân thuộc về Đức Kitô là Chúa tể là Vua vũ trụ, nhờ đó họ được tham gia vào trách vụ vương giả của Ngài, và được Ngài kêu gọi để phục vụ và phổ biến Ngài trong lịch sử. Họ sống vương quyền Kitô hữu trước tiên bằng cách chiến đấu và chiến thắng thế gian tội lỗi (Rom 6, 12) ngay trong chính mình họ, rồi hiến dâng mình để phục vụ trong đức bác ái và trong công bằng. Chính Đức Kitô hiện diện trong mọi người anh em, nhất là trong những người thấp hèn nhất (Mt 25, 40).

Nhưng người tín hữu giáo dân được gọi đặc biệt để đem lại cho các tạo vật những giá trị nguyên thủy của nó. Khi hoạt động trong ơn nghĩa Chúa, người giáo dân liên kết mọi thụ tạo và lợi ích chân thật của con người. Làm như thế, họ được tham gia vào việc thi hành quyền bính của Đức Kitô Phục Sinh là Đấng đã lôi kéo mọi sự về Ngài, và đặt mọi sự và chính mình dưới quyền Đức Chúa Cha, để Thiên Chúa trở nên mọi sự trong mọi người (Ga 12, 32; 1 Cor 18, 28).

Sự tham gia của giáo dân vào ba chức vụ của Chúa Giêsu Linh Mục, rao giảng và Vua bắt nguồn từ việc xức dầu của phép Rửa Tội, được phát triển nhờ phép Thêm Sức, được nâng đỡ và kiện toàn trong phép Thánh Thể. Đây là sự tham gia ban cho mỗi tín hữu giáo dân, nhưng với tư cách là họ tạo thành một thân thể duy nhất của Chúa Kitô. Bởi vì Chúa Giêsu làm cho Giáo Hội được sung túc bằng các ân huệ của mình, vì Giáo Hội là thân thể và là Hiền thê của Ngài. Như thế mỗi người được tham gia vào ba sứ vụ của Đức Kitô chỉ vì họ là phần thân thể của Giáo Hội, như thánh Phêrô tông đồ đã dạy khi gọi những người đã chịu phép Rửa Tội "là dòng giống được lựa chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, là dân tộc thuộc về Thiên Chúa" (1 Pt 2, 9). Và cũng vì nó bắt nguồn từ sự thông hiệp trong Giáo Hội nên việc tham dự của các tín hữu giáo dân vào ba chức vụ của Đức Kitô đòi hỏi phải sống và thực hiện trong sự thông hiệp, và để cho sự thông hiệp ngày càng tăng trưởng. Thánh Augustinô viết: "Cũng như chúng ta tất cả được gọi là Kitô hữu (Christiani) vì đã được xức dầu (Chrisma) một cách thiêng liêng, do đó tất cả được gọi là linh mục, bởi vì chúng ta lthành phần thân thể của Linh Mục duy nhất". (27)

Chú thích: (17) Ecumenical Council of Florence, Decr. Pro Armenìs, Denzinger - Schommetzer, Enchiridion Symbolorum, 1314; (18) Lumen Gentium, 10; (19) St. Augustine, Ennar, in Ps. XXVI, II,2: CCL 38, 154ff; (20) Cf. Lumen Gentium,10; (21) John Paul II, Homily at the beginning of his pastoral ministry as supreme shepherd of the church (Oct. 22, 1978): AAS 70 (1978), 946; (22) Cf. the renewed proposal of this teaching in the 1987 synod's Working Paper, 25; (23) Lumen Gentium, 34; (24) Ibid., 35; (25) Ibid., 12; (26) Ibid., 25; (27) St. Augustine, De Civitate Dei, XX, 10: CCL 48, 720.