***

Trang Học hỏi về Giáo Hội
Tông huấn
NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN
(Christifideles Laici)
ĐGH Gioan Phaolô II

* * *

CHƯƠNG I

TA LÀ CÂY NHO, CÁC CON LÀ CÀNH

(Tiếp theo)

NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN VÀ TÍNH CÁCH TRẦN THẾ.

15. Tính chất mới lạ của đời sống Kitô hữu là nền tảng và tước hiệu của sự bình đẳng giữa tất cả những ai đã chịu phép Rửa Tội trong Đức Kitô, giữa tất cả những thành phần của Dân Chúa: "Phẩm giá của tất cả mọi thành phần đều giống nhau vì mọi thành phần đều cùng được tái sinh trong Đức Kitô; ơn làm nghĩa tử cũng như nhau; mọi người cùng đều được kêu gọi đến sự trọn lành; chỉ có một ơn cứu rỗi, một đức cậy trông, một đức ái không phân chia" (28). Nhờ phẩm giá chung do phép Rửa Tội này, người tín hữu giáo dân là người đồng trách nhiệm với tất cả các vị thừa tác viên đã được phong chức thánh, với các tu sĩ nam nữ, đối với sứ mệnh của Giáo Hội.

Nhưng phẩm giá chung do phép Rửa Tội nơi người tín hữu giáo dân có một hình thái làm cho họ khác biệt, nhưng không chia cắt họ khỏi linh mục và tu sĩ nam nữ. Công Đồng Vaticanô II đã diễn tả hình thái này chủ tại trong tính cách trần thế: "tính cách trần thế là đặc tính riêng biệt của giáo dân" (29).

Muốn hiểu rõ một cách đầy đủ vị trí chuyên biệt của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội, phải đào sâu hình thức thần học của tính cách trần thế theo ánh sáng của chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa, và mầu nhiệm của Giáo Hội.

Như Đức Phaolô VI quả quyết, Giáo Hội "mang tính chất trần thế chính tông, bẩm sinh trong bản tính thâm sâu và sứ mệnh của mình; gốc rễ nó nằm trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể và thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau đối với các thành phần của mình." (30)

Tuy Giáo Hội sống giữa trần thế, mà không thuộc về trần thế (Ga 17,16). Giáo Hội được sai đi để tiếp nối công trình Cứu Chuộc của Đức Giêsu Kitô; công trình này "chính là lo cứu rỗi con người, nhưng cũng bao gồm việc canh tân những trật tự thế giới" (31).

Dĩ nhiên mọi thành phần của Giáo Hội đều phải tham gia vào lãnh vực trần thế của Giáo Hội, nhưng bằng những cách thế khác nhau. Đặc biệt sự tham gia của người giáo dân có hình thái thực hiện và chức vụ "riêng rẽ và đặc biệt" theo như Công Đồng phân tích. Chính những hình thái này đã được gọi là "tính cách trần thế" (32). Trong thực tế, khi Công Đồng nói về thân thế của các tín hữu giáo dân, trước khi tiên chỉ thân thế ấy như nơi chỗ họ được Thiên Chúa gọi: "Đó là nơi họ được gọi" (33). Đây là 'nơi" được trình bày với từ ngữ có nghĩa hoạt động, các tín hữu giáo dân "sống giữa đời, nghĩa là dấn thân vào đủ mọi nghĩa vụ và công tác của trần thế, trong những điều kiện thường nhật của đời sống gia đình và xã hội tạo nên" (34). Đó là những con người đang sống một đời sống thông thường giữa thế giới, đang học hành, đang làm việc, đang tạo nên những tình bạn, những tương giao xã hội, nghề nghiệp, văn hóa. Công Đồng không nhìn thân phận của họ một cách đơn giản do khuôn mẫu những điều kiện và môi trường bên ngoài, nhưng tìm gặp đầy đủ ý nghĩa của nó trong Đức Giêsu Kitô (35). Công Đồng lại quả quyết: "Ngôi Lời nhập thế đã muốn đích thân chia sẻ tình liên đới nhân loại. Người thánh hóa những mối liên hệ của con người, nhất là những liên hệ gia đình là nguồn gốc phát sinh những liên hệ xã hội. Người đã tự nguyện tuân theo luật lệ quốc gia của Người. Người đã muốn sống cuộc sống thợ thuyền với người đương thời trong quê hương mình" (36).

Như vậy, "thế giới", đã trở nên môi trường và phương thế cho ơn kêu gọi Kitô hữu của người tín hữu giáo dân, vì chính trần thế được chỉ định để tôn vinh Chúa Cha trong Đức Kitô. Với ý nghĩa này, Công Đồng có thể giải thích ý nghĩa riêng tư và đặc biệt ơn gọi của Thiên Chúa muốn kêu mời các tín hữu giáo dân. Họ không phải được kêu mời để bỏ vị trí của mình giữa thế giới. Vì phép Rửa Tội không kéo họ ra khỏi thế giới như thánh Phaolô tông đồ đã nhấn mạnh: "Hỡi anh chị em, mỗi người hãy ở trước mặt Chúa, trong vị thế mình đang ở khi được kêu gọi" (1 Cor 7,24). Trái lại, phép Rửa Tội trao phó cho họ một ơn gọi liên quan mật thiết với tình trạng của họ giữa thế giới. Các tín hữu giáo dân "được gọi, để nhờ sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, họ hành động như men dậy từ bên trong, để thánh hóa thế giới bằng việc thực thi các nhiệm vụ của mình. Như thế họ có thể đem Chúa Kitô đến cho kẻ khác bằng chứng tá của một đời sống sáng chói Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến" (37). Vì vậy, sống và hành động giữa thế giới đối với người tín hữu giáo dân, không chỉ là một thực tại nhân sinh xã hội, mà còn là một thực tại chuyên biệt thần học giữa trần thế. Thiên Chúa muốn biểu lộ ý định của Ngài và thông ban cho họ ơn đặc biệt là "tìm nước Thiên Chúa bằng cách quản lý các sự việc trần thế mà họ phải sắp xếp theo ý Thiên Chúa" (38).

Theo ý hướng này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã tuyên bố: "Tính cách trần thế của người tín hữu giáo dân không chỉ được định nghĩa theo quan niệm xã hội, mà theo ý nghĩa thần học. Tính cách trần thế phải hiểu theo ánh sáng của tác động tạo dựng và cứu chuộc của Thiên Chúa, Đấng đã trao phó trần thế này cho con người cả nam lẫn nữ để họ tham gia vào việc tạo dựng, để họ giải thoát thụ tạo khỏi ảnh hưởng của tội lỗi, để họ tự thánh hóa mình trong cuộc sống hôn nhân hoặc độc thân, trong gia đình, trong chức nghiệp và trong các hoạt động xã hội" (39)
Vị trí của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội được minh định rõ ràng từ gốc rễ, bắt nguồn từ những mới lạ của đời sống Kitô hữu và đặc tính trần thế của nó. (40)

Các hình ảnh trong Phúc Âm nói về muối mặn, ánh sáng và men bột, mặc dầu có ý nói về tất cả mọi tín đồ của Đức Giêsu, nhưng áp dụng cách riêng cho người tín hữu giáo dân. Đó là những hình ảnh mang nặng ý nghĩa tuyệt vời, bởi vì không những nó diễn tả việc hội nhập sâu xa và tham gia toàn diện của các người tín hữu giáo dân trên mặt đất, vào sự sống của thế giới, của cộng đồng nhân loại, nhưng nhất là nói lên nét mới mẻ và độc đáo của một sự hội nhập và tham gia để phổ biến Tin Mừng Cứu Độ.

ĐƯỢC KÊU GỌI ĐỂ NÊN THÁNH

16. Chúng ta sẽ thấy rõ ràng trọn vẹn phẩm giá của người tín hữu giáo dân nếu chúng ta khảo sát ơn gọi đầu tiên và căn bản mà Chúa Cha kêu mời mỗi người trong Đức Giêsu Kitô qua trung gian của Chúa Thánh Thần: ơn gọi nên thánh, nghĩa là ơn gọi đạt đến sự trọn lành của Đức Ai. Thánh nhân là người đã sống cuộc đời làm chứng nhân phẩm giá của tín hữu Đức Kitô một cách sáng lạn.

Công Đồng Vaticanô II đã nói rất rõ ràng về ơn gọi mọi người phải nên thánh. Có thể quả quyết đó là đường hướng chính đã được vạch ra cho con cái nam nữ của Giáo Hội do Công Đồng, một Công Đồng đã được triệu tập để canh tân đời sống Kitô hữu theo ánh sáng Phúc Âm (41). Đường hướng này không chỉ đơn giản là một lời khích lệ luân lý, nhưng đó là một đòi hỏi mầu nhiệm của Giáo Hội: Giáo Hội là một cây nho được tuyển chọn, nhờ Giáo Hội, các cành nho được sinh trưởng nhờ nhựa sống của chính Đức Kitô, nhựa sống vừa thánh thiện vừa có sức thánh hóa; Giáo Hội là nhiệm thể, các phần thân thể của Giáo Hội thông phần sự sống thánh thiện của đầu là Đức Kitô; Giáo Hội là hiền thê khả ái của Chúa Giêsu, là Đấng đã hiến thân để thánh hóa Giáo Hội (Eph 5,25). Chúa Thánh Thần là Đấng đã thánh hóa nhân tính Chúa Giêsu trong lòng trinh nữ Maria (Lc 1,35), thì cũng chính Chúa Thánh Thần ấy cư ngụ và hoạt động trong Giáo Hội để thông ban cho Giáo Hội sự thánh thiện của Con Thiên Chúa làm người.

Ngày nay hơn bao giờ hết, mọi người Kitô hữu phải đi lại con đường canh tân theo tinh thần Phúc Âm, đại độ chấp nhận lời mời của vị tông đồ "phải nên thánh trong mọi tác phong của mình" (1Pt 1,15). Thượng Hội đồng ngoại lệ năm 1985, hai chục năm sau Công Đồng, đã nhấn mạnh kịp thời về tình trạng khẩn cấp này: "Giáo Hội trong Đức Kitô là mầu nhiệm, vì thế Giáo Hội phải được xem như là dấu chỉ, và phương thế của sự thánh thiện. Các vị thánh nam, nữ đã luôn luôn là nguồn gốc canh tân trong Giáo Hội và những giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử Giáo Hội. Ngày hôm nay chúng ta cần có những vị Thánh lớn, chúng ta hãy khẩn khoản cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta những vị Thánh như vậy".(42)

Mọi người trong Giáo Hội, vì là phần thân thể Giáo hội, nên nhận được và chia sẻ ơn gọi nên thánh chung của mọi người. Người tín hữu giáo dân được mời gọi nên thánh, và họ có quyền được mời gọi giống như mọi thành phần khác của Giáo hội: "Tất cả những ai tin vào Đức Kitô, không phân biệt sắc tộc, địa vị, đều được kêu gọi tiến đến sự sung mãn của đời sống Kitô hữu và sự trọn lành của Đức Ai" (43). "Tất cả những tín hữu của Đức Kitô đều được mời gọi và có bổn phận nên thánh và nên trọn lành theo địa vị của mình". (44)

Ơn gọi nên thánh bắt nguồn từ phép Rửa Tội và được các bí tích khác thêm sinh lực, nhất là phép Thánh Thể. Được mặc lấy Chúa Kitô và được hướng dẫn bởi Thánh Linh Ngài, các Kitô hữu là những "thánh nhân" và vì thế, có năng cách để dấn thân hầu biểu lộ sự thánh thiện của hành động mình. Thánh Phaolô tông đồ luôn luôn khuyến khích các Kitô hữu sống "như những vị thánh" (Eph 5,3).

Sống theo Thánh Linh đem lại kết quả là sự thánh thiện (Rom 6,22; Gal 5,22). Sự sống này khơi dậy trong tâm hồn mọi người và mỗi người đã chịu phép Rửa Tội, ước muốn và đòi hỏi phải theo và bắt chước Đức Giêsu Kitô, bằng cách chấp nhận các mối Phúc Thật của Ngài, bằng việc lắng nghe và suy niệm Lời chúa, bằng cách tham gia một cách ý thức và linh động vào đời sống phụng vụ và bí tích của Giáo Hội, bằng việc cầu nguyện cá nhân, trong gia đình hay trong cộng đồng, bằng tâm hồn đói khát sự công chính, bằng việc thực hành giới răn yêu thương trong mọi hoàn cảnh của đời sống, và bằng việc phục vụ anh em, đặc biệt những người khó hèn, nghèo túng và đau khổ.

Chú thích: (28) Lumen Gentium, 34. (29) Ibid., 31. (30) Paul VI, talk to the members of secular institutes (Feb. 2, 1972): AAS 64 (1972), 208. (31) Apostolicam Actuasitatem, 5. (32) Lumen Gentium, 31. (33) Ibid. (34) Ibid. (35) Cf. Ibid., 48. (36) Gaudium et Spes, 32. (37) Lumen Gentium, 31. (38) Ibid. (39) Proposition 4. (40) "Full members of the people of God anh the mystical body, they participate through baptism in the threefold priestly, prophetic and kingly mission of Christ; the lay faithful express and exercise the riches of their dignity through their living in the world. What can be an addition or exceptional task for those who belong to the ordained ministry is the typical mission of the lay faithful. Their proper vocation consists 'in seeking the kingdom of God by engaging in temporal affairs and by ordering them according to the plan of God' "Lumen Gentium, 31" (JP II, Angelus talk, 15/3/1987: Insegnamenti X, 1, 561). (41) See, in particular, Lumen Gentium, 39-42, which treats the subject of "the universal call to holinees in the church". (42) Final report, II, A, 4. (43) Lumen Gentium, 40. (44) Ibid. , 42. These solemn and unequivocal affirmations of the council repropose a fundamental truth of the Christian faith. Thus, for example, Pius XI in the enciclycal Casti Connubii ad dressed Christian spouses in the following words: "In whatever state they might be and whatever upright way of life they might have chosen, all must imitate the most perfect example of holiness, proposed by God to humanity, namely, our Lord Jesus Christ, and with the help of God to even reach the highest stage of Christian perfection, shown in the example of the many saints": ASS 22 (1930), 548.