Trang Học hỏi về Giáo Hội
Tông huấn
NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN
(Christifideles Laici)
ĐGH Gioan Phaolô II

* * *

CHƯƠNG I

TA LÀ CÂY NHO, CÁC CON LÀ CÀNH

Phẩm giá của người Tín Hữu Giáo Dân trong Giáo Hội Mầu Nhiệm.

MẦU NHIỆM CÂY NHO

8. Hình ảnh cây nho trong Thánh Kinh được dùng nhiều cách và nhiều ý nghĩa. Đặc biệt nó được dùng để diễn tả mầu nhiệm Dân Chúa. Theo ý nghĩa này, người giáo dân không những chỉ là những người thợ làm việc trong vườn nho, nhưng họ là một phần tử cây nho. Chúa nói: "Ta là cây nho, các con là cành" (Ga 15, 5).

Trong Cựu Ước các tiên tri khi muốn nói đến dân được chọn, cũng ưa dùng hình ảnh cây nho. Israel là cây nho của Thiên Chúa, là niềm vui của tâm hồn Ngài: "Ta đã trồng ngươi như một cây nho được chọn lọc" (Jer 2, 21); "Mẹ ngươi giống như một cậy nho trồng bên bờ nước. Nó sai trái và um tùm hoa lá nhờ có nhiều nước tràn trề" (Ez 19, 10); "Người bạn tôi có một vườn nho trên một sườn đồi phì nhiêu. Ông cầy bừa trở đất lượm đá sỏi để trồng vào đó một cây hảo hạng..." (Is 5, 1-2).

Chính Đức Giêsu cũng dùng hình ảnh cây nho để mạc khải một số khía cạnh về Nước Thiên Chúa: "Một người kia trồng một vườn nho, ông rào dậu bốn bề, một hầm ép nho, và xây một tháp canh rồi ông cho các người làm nho thuê mướn và ông khởi hành đi xa" (Mc 12,1 - Mt 21, 28).
Thánh sử Gioan còn mời chúng ta đi xa hơn, và đưa chúng ta đến khám phá mầu nhiệm của cây nho: Nó là biểu tượng và hình ảnh không những của dân Thiên Chúa, mà còn là biểu tượng và hình ảnh của chính Đức Giêsu. Ngài là gốc cây nho, còn chúng ta, môn đệ Ngài, chúng ta là cành. Ngài là "Cây Nho thật", các cành phải kết hợp để được sống (Ga 15,1...).

Công Đồng Vaticanô II lấy lại hình ảnh Thánh kinh để giải thích mầu nhiệm Giáo Hội, cũng đưa ra hình ảnh cây nho và cành: "Cây nho thật là chính Chúa Kitô; chính Ngài ban phát sự sống và sức sinh sản cho các cành là chúng ta. Qua Giáo Hội, chúng ta sống trong Ngài, và không Ngài chúng ta chẳng làm được việc gì" (Ga 15, 1-5) (12). 

Như thế, chính Giáo Hội là vườn nho nói trong Thánh Kinh. Là mầu nhiệm bởi vì tình thương và sự sống của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, là ân huệ tuyệt đối ban nhưng không cho tất cả những ai được sinh ra bởi nước và Thánh Linh (Ga 3, 5), được gọi để sống chính sự hiệp thông của Thiên Chúa, để bày tỏ và thông truyền sứ mệnh hiệp thông này trong lịch sử. Chúa Giêsu nói: "Trong ngày ấy các con sẽ biết rõ Thầy ở trong Cha Thầy, và các con ở trong Thầy và Thầy ở trong các con" (Ga 14, 20).

Người giáo dân chỉ nhận diện mình, nhận chân bản tính nguyên thủy của mình bên trong mầu nhiệm của Giáo Hội là mầu nhiệm hiệp thông. Ơn gọi cũng như sứ mệnh trong Giáo Hội và thế giới của người giáo dân cũng chỉ định nghĩa được bên trong phẩm giá này.

NGƯỜI GIÁO DÂN LÀ AI?

9. Các Nghị Phụ đã nêu lên một nhận xét chính đáng là phải minh định cách rõ ràng về ơn gọi và sứ mệnh của tín hữu giáo dân, qua việc nghiên cứu sâu xa giáo lý của Công Đồng Vaticanô II, theo ánh sáng của các văn kiện mới của Giáo Hội, và kinh nghiệm sống của Giáo Hội được hướng dẫn do Chúa Thánh Thần. (13)

Để trả lời câu hỏi người tín hữu giáo dân là ai, Công Đồng đã đi xa hơn với lối giải thích tiêu cực trước đây, bằng một cái nhìn hoàn toàn tích cực. Công Đồng đã đưa ra ý hướng căn bản và đầy đủ thuộc về người giáo dân đối với Giáo Hội và mầu nhiệm của Giáo Hội. Ơn gọi đặc biệt của họ là "tìm nước Chúa trong khi quản trị các việc trần thế mà họ sắp xếp theo ý Chúa" (14). Hiến chế Anh Sáng Muôn Dân (Lumen Gentium) còn thêm: "Danh hiệu giáo dân có nghĩa là tất cả các Kitô hữu không thuộc về thành phần chức thánh hay bậc tu trì được Giáo Hội công nhận, nghĩa là các Kitô hữu đã được rửa tội, sát nhập vào thân thể Chúa Kitô, được nhập tịch Dân Chúa, được trở thành kẻ tham gia theo cách của mình vào chức vụ tư tế, chức vụ rao giảng Lời Chúa và chức vụ vương giả của Chúa Kitô; họ là những người thi hành sứ mệnh của toàn dân Kitô hữu trong Giáo Hội và giữa trần thế theo mhiệm vụ riêng của mình". (15)

Đức Piô XII đã quả quyết: "Các tín hữu, nói một cách rộng hơn, là các giáo dân là kẻ đứng ở mặt trận tiền phong trong đời sống của Giáo Hội. Nhờ họ, Giáo Hội trở nên nguyên lý sự sống cho xã hội loài người. Vì thế, chính họ phải ý thức ngày càng rõ rệt là họ không những thuộc về Giáo Hội, mà là Giáo Hội; nghĩa là cộng đồng các tín hữu trên mặt đất, dưới sự hướng dẫn của vị thủ lãnh chung là Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục hiệp thông với Ngài. Họ là Giáo Hội." (16)

Theo hình ảnh Thánh Kinh về cây nho, người tín hữu giáo dân cũng như tất cả các phần thân thể khác của Giáo Hội, là những cây nho tháp nhập vào Đức Kitô là Cây Nho thật; chính nhờ Ngài mà họ được sống và trổ sinh hoa trái.

Được ghép vào Đức Kitô nhờ Đức Tin và phép Thánh Thể, là gốc rễ đầu tiên tạo nên thân phận mới của người Kitô hữu trong mầu nhiệm Giáo Hội, tạo nên sắc thái căn bản, và là nền tảng của tất cả mọi ơn gọi và hoạt động Kitô hữu của người tín hữu giáo dân. Trong Đức Kitô chết và sống lại, người đã rửa tội trở nên một "thụ tạo mới"(Gal 6, 12 - 2Cor 5, 17), một thụ tạo được thanh tẩy hết tội lỗi và sống trong ơn nghĩa Chúa.

Như thế "hình ảnh" người giáo dân được phác họa dựa vào kho tàng phong phú mầu nhiệm Thiên Chúa đã ban cho người Kitô hữu trong bí tích Rửa Tội.

PHÉP RỬA TỘI VÀ THÂN PHẬN MỚI CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU

10. Không phải là quá đáng khi chúng ta quả quyết rằng: toàn cuộc sống của người tín hữu giáo dân chỉ có mục đích là đưa họ đến nhận biết mầu nhiệm chính yếu của họ phát xuất từ phép Rửa Tội, là bí tích Đức Tin, để họ có thể sống nghĩa vụ theo ơn gọi Chúa đã chỉ định. Để phác họa "hình ảnh" người tín hữu giáo dân, chúng ta hãy kiểm xét một cách trực tiếp và rõ ràng các khía cạnh căn bản sau đây: phép Rửa Tội đã tái sinh chúng ta trong sự sống Con Chúa; nó hợp nhất chúng ta với Chúa Kitô, với thân thể Ngài là Giáo Hội, xức dầu cho chúng ta trong Chúa Thánh Thần bằng cách làm cho chúng ta trở nên những đền thờ thiêng liêng.

Con Chúa trong Người Con Một

11. Chúng ta nhớ lại những lời của Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô: "Ta nói thật với ông, hễ ai chẳng sinh lại bởi nước và Thánh Linh, thì không được vào nước Thiên Chúa" (Ga 3,5). Phép Rửa Tội là một sinh hạ mới, một cuộc tái sinh.

Chính khi nghĩ đến khía cạnh này của phép Rửa Tội mà thánh Phêrô tông đồ đã ca lên: "Chúc tụng Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, vì lòng từ bi cao cả Ngài đã tái sinh chúng ta nhờ sự sống lại của Đức Giêsu Kitô từ trong kẻ chết, để chúng ta được hưởng gia tài bất diệt, không tỳ ố, cũng không tàn héo" (1 Pt 1, 3-4), và Người gọi là Kitô hữu những ai Chúa đã "tái sinh, không phải do hạt giống hay hư nát, nhưng do hạt giống bất diệt là Thiên Chúa hằng sống và tồn tại muôn thuở" (1 Pt 1, 23).

Nhờ phép Rửa, chúng ta trở nên con cái nam nữ của Thiên Chúa, trong Con Một của Ngài, là Đức Giêsu Kitô.

Khi ra khỏi giếng Rửa tội, mỗi người Kitô hữu đều được nghe tiếng đã phán trước kia trên bờ sông Giođanô: "Con là Con Ta yêu dấu, rất đẹp lòng Ta" (Lc 3, 22). Và như thế họ hiểu là họ được kết hợp với Người Con yêu dấu vì đã trở thành dưỡng tử (Gal 4, 4-7), và là anh em của Chúa Kitô. Như thế, được thể hiện trong lịch sử cuộc đời của Thiên Chúa: "Những ai Ngài đã nhận biết trước, thì Ngài định cho họ được trở nên hình ảnh Con Ngài, để làm cho Con Ngài trở thành trưởng tử của vô số anh em" (Rom 8, 29).

Chính Chúa Thánh Thần làm cho những người đã rửa tội trở nên con cái nam nữ của Thiên Chúa, và đồng thời trở nên chi thể của thân thể Đức Kitô. Thánh Phaolô đã nhắc lại cho các Kitô hữu thành Côrintô: "Tất cả chúng ta đã được rửa tội trong một Thánh Thần độc nhất để làm thành một thân thể" (1Cor 12, 143) đến nỗi Thánh tông đồ có thể nói với các tín hữu giáo dân của Ngài: "Anh em là thân thể Chúa Kitô, và mỗi người đều là chi thể" (1Cor 12, 27); "Và đây là chứng cớ rõ ràng anh em là con cái, được Thiên Chúa sai đến, Thần Linh của Con Ngài ở trong tâm hồn chúng ta" (Gal 4, 6 - Rom 8, 15-16).

Chú thích: (12) Lumen Gentium, 1; (13) Cf. Proposition 3; (14) và (15) Lumen Gentium, 31; (16) Pius XII, Discourse to the new cardinals, Feb. 20, 1946: A AS 38, 149.