Trang Học hỏi về Giáo Hội

Tông huấn
 

NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN
(Christifideles Laici)
 

ĐGH Gioan Phaolô II

 

NHẬP ĐỀ

 

1.     ƠN GỌI VÀ SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN

2.     CÁC ÔNG CŨNG THẾ, HĂY VÀO LÀM VƯỜN NHO CHO TA

3.    NHỮNG NHU CẦU KHẨN THIẾT CỦA THẾ GIỚI NGÀY NAY: "TẠI SAO CÁC NGƯỜI ĐỨNG ĐÂY SUỐT NGÀY MÀ CHẲNG LÀM G̀?"

4.    TỤC HÓA VÀ NHU CẦU TÔN GIÁO

5.    NHÂN VỊ CON NGƯỜI: PHẨM GIÁ BỊ CHÀ ĐẠP VÀ ĐƯỢC CA TỤNG

6.    TRANH CHẤP VÀ H̉A B̀NH

7.     ĐỨC KITÔ, HY VỌNG CỦA NHÂN LOẠI

 

CHƯƠNG I :

 

TA LÀ CÂY NHO, CÁC CON LÀ CÀNH

 

8.     MẦU NHIỆM CÂY NHO

9.     NGƯỜI GIÁO DÂN LÀ AI?

10.    PHÉP RỬA TỘI VÀ THÂN PHẬN MỚI CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU

11.    CON CHÚA TRONG NGƯỜI CON MỘT

12.    MỘT THÂN THỂ TRONG ĐỨC KITÔ

11.   CON CHÚA TRONG NGƯỜI CON MỘT

13.    ĐỀN THỜ SỐNG ĐỘNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN

14.    THAM GIA VÀO CHỨC VỤ TƯ TẾ, RAO GIẢNG VÀ VƯƠNG GIẢ CỦA ĐỨC KITÔ.

15.    NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN VÀ TÍNH CÁCH TRẦN THẾ.

16.    ĐƯỢC KÊU GỌI ĐỂ NÊN THÁNH

17.    THÁNH HÓA BẢN THÂN GIỮA THẾ GIỚI

 

CHƯƠNG II
 

TẤT CẢ LÀ CÀNH NHO
CỦA MỘT CÂY NHO DUY NHẤT

 

18.    MẦU NHIỆM CỦA GIÁO HỘI THÔNG HIỆP
19.    CÔNG ĐỒNG VÀ GIÁO HỘI HỌC HIỆP THÔNG
20.    KHÁC BIỆT NHƯNG BỔ TÚC
21.    THỪA TÁC VỤ VÀ ĐOÀN SỦNG LÀ ƠN CỦA CHÚA THÁNH THẦN BAN CHO GIÁO HỘI
22.    CÁC THỪA TÁC VỤ PHÁT SINH TỪ PHÉP TRUYỀN CHỨC THÁNH
23.    THỪA TÁC VỤ, NHIỆM VỤ VÀ CHỨC VỤ CỦA GIÁO DÂN
24.    ĐOÀN SỦNG
25.    NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN THAM GIA VÀO ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI
26.    GIÁO XỨ

27.    HỌAT ĐỘNG TÔNG ĐỒ TRONG GIÁO XỨ

28.    H̀NH THỨC THAM DỰ CỦA NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN VÀO ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI
29.    H̀NH THỨC THAM DỰ TẬP THỂ

30.    TIÊU CHUẨN ĐỂ NH̀N NHẬN TÍNH CÁCH GIÁO HỘI ĐỐI VỚI CÁC HIỆP HỘI GIÁO DÂN

31.    PHẬN SỰ CỦA VỊ CHỦ CHĂN ĐỂ THỰC HIỆN VIỆC HIỆP THÔNG

 

CHƯƠNG III :

 

THẦY ĐĂ SAI CHÚNG CON RA ĐI VÀ MANG LẠI KẾT QUẢ

 

32.    SỰ THÔNG HIỆP TRUYỀN GIÁO
33.    RAO TRUYỀN PHÚC ÂM
34.    ĐĂ ĐẾN GIỜ PHẢI ĐỔI MỚI VIỆC RAO GIẢNG PHÚC ÂM

35.    CHÚNG CON HĂY ĐI KHẮP THẾ GIỚI

36.    SỐNG PHÚC ÂM BẰNG CÁCH PHỤC VỤ CON NGƯỜI VÀ XĂ HỘI
37.    THĂNG TIẾN PHẨM GIÁ CON NGƯỜI

38.    TÔN TRỌNG QUYỀN SỐNG BẤT KHẢ XÂM PHẠM

39.    TỰ DO KÊU CẦU DANH CHÚA

40.    GIA Đ̀NH: NƠI ĐẦU TIÊN ĐỂ HỌC DẤN THÂN LÀM VIỆC XĂ HỘI

41.    ĐỨC ÁI LÀ LINH HỒN, LÀ SỰ NÂNG ĐỠ CỦA T̀NH LIÊN ĐỚI

42.    ĐỜI SỐNG XĂ HỘI: CHO MỌI NGƯỜI VÀ V̀ MỌI NGƯỜI

43.    ĐẶT CON NGƯỜI VÀO TRUNG TÂM ĐIỂM CỦA ĐỜI SỐNG KINH TẾ XĂ HỘI

44.   PHÚC ÂM VĂN HÓA VÀ CÁC NỀN VĂN HÓA CỦA CON NGƯỜI

 

 

NHẬP ĐỀ

 

1. "ƠN GỌI VÀ SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN trong Giáo Hội và thế giới" đă được Thượng Hội Đồng Giám Mục (THĐGM) năm 1987 dùng làm đề tài thảo luận. Mọi tín hữu thuộc về Dân Chúa, và Dân Chúa là những thợ làm vườn nho được đề cập đến trong Phúc Âm thánh Matthêu: "Nước Trời giống như chủ nhân vườn nho lúc tảng sáng ra đi t́m thợ làm vườn nho. Ông đồng ư trả cho họ một đồng mỗi ngày, và đưa họ vào làm vườn nho ḿnh" (Mt. 20, 1-2).

Dụ ngôn Phúc Âm mô tả trước mắt chúng ta vườn nho mênh mông của Chúa và đoàn lũ người gồm đàn ông đàn bà mà Ngài gọi và sai vào làm việc,
Vườn nho là toàn thế giới (Mt. 13,38), và thế giới này phải được biến đổi theo ư định của Thiên Chúa trong một viễn ảnh của vương quốc Người vào ngày thế mạt.

 

CÁC ÔNG CŨNG THẾ, HĂY VÀO LÀM VƯỜN NHO CHO TA

 

2. "Vào lúc 9 giờ chủ nhân lại ra và thấy nhiều người khác c̣n đứng tại chỗ không có việc làm. Ông bảo họ: "Các ông cũng thế, hăy vào làm vườn nho cho Ta" (Mt. 20, 3-4).

 

Lời mời gọi của Chúa Giêsu, từ xa xưa ấy trong lịch sử, vẫn c̣n luôn luôn vang dội đến tai chúng ta: Ngài mời gọi hết mọi người đến trong thế gian này.
Trong thời đại chúng ta, Giáo Hội sau Công Đồng Vatican II, như một lễ Hiện xuống mới với ơn Chúa Thánh Thần đổ xuống tràn trề, đă nhận thức sâu sắc về bản tính truyền giáo của ḿnh, và đă ngoan ngoăn lắng nghe tiếng Chúa sai đi vào trần thế, như "bí tích cứu rỗi mọi người"(
1).

 

Cả các ngươi nữa. Lời mời gọi không chỉ nói với các chủ chăn, linh mục, tu sĩ nam nữ, nhưng nói với hết mọi người: người tín hữu giáo dân, cũng được Chúa mời gọi đích danh. Thánh Grêgôriô Cả cũng đă nhắc lại điều đó khi chú giải dụ ngôn này trong bài giảng: "Anh em thân mến, anh em hăy kiển điểm lại cách sống của ḿnh, và xét lại xem anh em có phải là những người thợ của Chúa. Mỗi người hăy phán đoán việc ḿnh làm và kiểm điểm xem có phải là ḿnh đang làm việc trong vườn nho của Chúa"(2).

 

Công Đồng đă thừa hưởng một gia sản tín lư, linh hướng và mục vụ vô giá, v́ thế Công Đồng đă viết ra những trang tuyệt diệu về bản tính, về phẩm giá, về linh hướng, về sứ mệnh và trách nhiệm của người tín hữu giáo dân. Và các Nghị Phụ Công Đồng, đáp lại lời mời gọi của Chúa Kitô, đă lên tiếng kêu cầu mọi người giáo dân, nam cũng như nữ vào làm việc trong vườn nho của Ngài: "Thánh Công Đồng, lấy danh nghĩa Chúa, hết ḷng kêu cầu mọi giáo dân hăy t́nh nguyện và hăng hái đại độ đáp lại lời mời gọi của Chúa Kitô là Đấng chính trong lúc này đang mời gọi họ một cách khẩn khoản, cũng như đáp lại sự thúc đẩy của Chúa Thánh Linh. Riêng với giới trẻ, họ phải cảm nghiệm rơ ràng là tiếng mời gọi ấy đặc biệt gởi cho họ, và tiếp nhận với niềm hân hoan và ḷng quảng đại. Chính Chúa đă dùng Công Đồng để thôi thúc mọi giáo dân mỗi ngày phải kết hợp với Ngài mật thiết hơn và coi lợi ích của Chúa như chính lợi ích của ḿnh (Phil. 2, 5), phải hợp tác sứ mệnh cứu rỗi của Ngài. Một lần nữa, Ngài lại sai họ vào các thị thành, nơi chỗ mà chính Ngài sẽ đến (Lc. 10,1; Ap-Act. 33)"(3).

 

Các ông cũng thế, hăy vào làm vườn nho cho Ta. Về mặt thiêng liêng, những lời này vang vọng suốt cả thời gian THĐGM tại Rôma từ ngày 1 đến 30 tháng 10 năm 1987. Các Nghị Phụ theo vết chân của Công Đồng, hơn nữa với kinh nghiệm bản thân cũng như kinh nghiệm từ các cộng đồng của toàn thể Giáo Hội; nhất là sự đóng góp dồi dào của các Thượng Hội Đồng trước, các vị đă nghiên cứu một cách uyên thâm ơn gọi và sứ mệnh của giáo dân trong Giáo Hội và thế giới.

 

Trong Thượng Hội Đồng (THĐ) này, c̣n có các vị đại diện giáo dân nam nữ. Họ đă đem lại cho THĐ những đóng góp quư giá. Trong bài giảng bế mạc, THĐ đă xác nhận: "Chúng ta cảm ơn Chúa v́ suốt khóa họp THĐ này không những chúng ta đă vui mừng đón nhận sự tham dự của giáo dân (dự thính viên nam nữ), hơn nữa trong lúc bàn căi c̣n được nghe tiếng của những đại diện giáo dân khắp nơi trên thế giới tới từ các quốc gia khác nhau. Nhờ đó, chúng ta có dịp lắng nghe những kinh nghiệm, ư kiến và đề nghị của họ phát xuất từ ḷng tha thiết với quyền lợi chung"(4).

 

Duyệt lại những năm sau Công Đồng, các Nghị Phụ đă có thể xác nhận được việc Chúa Thánh Thần đang làm là tiếp tục canh tân Giáo Hội, tạo nên sức sống thánh thiện mới với sự tham gia của một số đông tín hữu giáo dân. Việc tham gia này được thể hiện trong nhiều h́nh thức. Thí dụ: hợp tác mới giữa linh mục, tu sĩ và tín hữu giáo dân; tham gia tích cực vào phụng vụ, vào việc rao truyền Lời Chúa, vào việc dạy giáo lư; chu toàn một cách tốt đẹp những nhiệm vụ hay công tác phục vụ trao phó cho người tín hữu giáo dân; phát triển các nhóm, các đoàn thể, các phong trào Công Giáo tiến hành và thiện nguyện; và việc nữ giới tham gia một cách rộng răi và nổi bật vào đời sống Giáo Hội, và sự phát triển của xă hội.

 

Nhưng đồng thời, THĐ cũng không quên nhận thấy con đường hậu Công Đồng của người tín hữu giáo dân không phải là không có nhiều chông gai nguy hiểm. Trong thực tế, có thể nói đến hai thử thách mà không phải lúc nào họ cũng dễ dàng vượt qua: đó là hăng say phục vụ đến độ quên sót bổn phận riêng của ḿnh trong phạm vi nghề nghiệp, xă hội, kinh tế, văn hóa hay chính trị, hoặc t́m cách hợp thức hóa để tách rời Đức Tin ra khỏi đời sống, đó là phân tách Phúc Âm ra khỏi hoạt động cụ thể trong phạm vi xă hội.

 

Suốt thời gian nghiên cứu, THĐ luôn luôn đề cập đến Công Đồng Vaticanô II, v́ các giáo huấn của Công Đồng về vai tṛ giáo dân, mặc dù đă sau hai chục năm vẫn luôn hợp thời một cách lạ lùng, mang dấu chỉ của lời tiên tri: Một giáo huấn như thế có thể soi sáng và hướng dẫn để giải đáp vấn đề mới của thời đại hôm nay. Thật vậy, các Nghị Phụ của THĐ đă vạch rơ được những con đường chắc chắn để "lư thuyết" phong phú về vai tṛ giáo dân, từng được Công Đồng tŕnh bày, được "áp dụng" trong Giáo Hội. Mặt khác, cũng có những vấn đề phải đặt ra v́ tính cách "hợp thời", nói một cách khác, là các vấn đề hậu Công Đồng. Ít nữa theo nghĩa thời gian, những vấn đề này, các Nghị Phụ đă đặc biệt chú trọng đến suốt trong thời gian bàn căi và suy nghĩ. Trong những vấn đề đó, phải nói đến những liên hệ giữa những thừa tác vụ và chức vụ của người tín hữu giáo dân hiện tại và trong tương lai, sự bành trướng và triển nở các "phong trào" mới bên cạnh các h́nh thức hiệp hội giáo dân đă có, và vị thế cùng vai tṛ của phụ nữ trong Giáo Hội cũng như trong xă hội.

 

Sau khi đă sốt sắng hoàn thành công việc với đầy khả năng và thiện tâm thiện chí, các Nghị Phụ THĐ đă bày tỏ và xin Ta, vào một thời điểm thuận tiện, tŕnh bày cho Giáo Hội hoàn vũ một tài liệu tóm lược, đúc kết về hàng giáo dân Công Giáo (5).

 

Bức Tông huấn hậu THĐ và Công Đồng này muốn làm nổi bật giá trị công việc của THĐ, từ "các đường hướng" đến "phương tiện làm việc", từ bản tường tŕnh nhập đề đến các lời phát biểu của mỗi Giám Mục và giáo dân, cả đến biên bản đúc kết sau cuộc tranh luận chung, từ những cuộc thảo luận và tường tŕnh của các nhóm nhỏ cho đến "đề nghị", và cả sứ điệp kết thúc. Tài liệu này của Ta không nằm ngoài lề THĐGM, nhưng là những lời diễn tả mạch lạc và trung thực của THĐ; là hoa trái của việc làm tập thể mà giai đoạn chót là soạn thảo một bản tường tŕnh, nhờ những đóng góp của Hội Đồng Văn Pḥng Tổng Thư Kư THĐ và của chính Văn Pḥng.

Mục đích của Tông Huấn này là khơi dậy và nuôi dưỡng một ư thức rơ ràng hơn về ân huệ và trách nhiệm mà mọi tín hữu giáo dân lănh nhận trong sự thông hiệp, và sứ mệnh của Giáo Hội.

 

Chú thích:

(1) Second Vatican Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 48.
(2) St. Gregory the Great, Hom. In Evang. 1. XIX, 2: Patrologia Latina 76, 1155.
(3) Second Vatican Council, Decree on the Apostolate of Lay People Apostolicam Actuositatem, 33
(4) John Paul II, Homily at synod closing Mass (Oct. 30, 1987): Acta Apostolicae Sedis 80 (1988), 598
(5) Cf. Proposition 1.

NHỮNG NHU CẦU KHẨN THIẾT CỦA THẾ GIỚI NGÀY NAY: "TẠI SAO CÁC NGƯỜI ĐỨNG ĐÂY SUỐT NGÀY MÀ CHẲNG LÀM G̀?"

 

3. Ư nghĩa căn bản của Thượng Hội này, và kết quả rất quư giá và rất mong đợi của nó, là dẫn đưa tín hữu giáo dân đến lắng nghe Đức Kitô đang mời gọi họ vào làm việc trong vườn nho của Ngài, và cộng tác một cách hăng say đầy ư thức trách nhiệm trong sứ mệnh của Giáo Hội, giữa giai đoạn vừa rực rỡ cũng vừa bi thảm của lịch sử, trước ngưỡng cửa của đệ tam thiên niên.

 

Những hoàn cảnh đổi mới trong Giáo Hội cũng như của thế giới, trong thực tại xă hội, kinh tế chính trị và văn hóa hôm nay đ̣i hỏi một cách đặc biệt hoạt động của người tín hữu giáo dân. Nếu trước đây ai làm ngơ là điều không thể chấp nhận được, th́ hiện giờ điều ấy lại càng đáng bị khiển trách hơn. Không ai được phép ở không, không làm ǵ.

 

Chúng ta hăy đọc lại dụ ngôn Phúc Âm: "Vào lúc năm giờ chủ nhân lại đi ra, ông c̣n gặp một số người khác đứng đấy và ông bảo họ: "Tại sao các anh c̣n đứng đây, suốt ngày không làm ǵ cả". Họ trả lời: "V́ không ai mướn chúng tôi." Ông bảo: "Các anh cũng thế, hăy vào làm vườn nho của Ta" (Mt. 20, 6-7).


Khi mà trong vườn nho của Chúa đầy tràn công việc đang đợi chờ tất cả chúng ta, th́ không ai được biếng nhác. "Chủ nhân vườn nho" lại c̣n khẩn khoản đi mời lại: "Các anh cũng thế, hăy vào làm vườn nho cho Ta".

 

Chắc chắn Lời Chúa vẫn c̣n vang vọng trong thâm tâm của mỗi người Công Giáo. Bởi v́ mỗi người đă được trở nên giống như Đức Kitô nhờ Đức Tin và các bí tích khai tâm Kitô giáo, đă được ghép vào Giáo Hội như một phần thân thể sống động, và đă trở nên một công dân linh hoạt của sứ mệnh cứu rỗi. Tiếng gọi của Chúa cũng đă được lưu truyền qua các biến cố lịch sử Giáo Hội và nhân loại, như Công Đồng nhắc nhở chúng ta: "Dân Chúa nhờ Đức Tin thúc đẩy, biết rằng Thánh Linh Chúa chiếu sáng khắp vũ trụ đang hướng dẫn ḿnh, đă cố gắng nh́n nhận trong các biến cố, những đ̣i hỏi và ước vọng của thời đại chúng ta, và cũng là những đ̣i hỏi, ước vọng của ḿnh, đâu là dấu chỉ chân thật của sự hiện diện và ư định Thiên Chúa. Bởi v́ Đức Tin cho chúng ta một ánh sáng mới, để nh́n xem mọi sự và giúp chúng ta biết được ư muốn của Chúa về ơn gọi toàn diện của con người, hướng tâm trí đi t́m những giải pháp hoàn toàn nhân bản".(6) (Vui Mừng và Hy Vọng 11) (7).

 

Phải can đảm nh́n vào bộ mặt của thế giới này, là thế giới của chúng ta, với tất cả những giá trị, những vấn đề của nó, với tất cả những lo âu những hy vọng, những thành quả chinh phục và những thật bại của nó: một thế giới với hiện t́nh kinh tế, xă hội, chính trị và văn hóa đầy dẫy các vấn đề và khó khăn nguy ngập hơn cả t́nh trạng được mô tả trong Hiến Chế Mục Vụ Vui Mừng và Hy Vọng. Dù sao, đây là vườn nho, là mảnh đất mà người tín hữu giáo dân được gọi để sống sứ mệnh của ḿnh. Chúa Giêsu mong muốn các giáo dân, cũng như các môn đệ của Ngài phải trở nên muối đất và ánh sáng của thế gian (Mt. 5, 13-14). Nhưng đâu là bộ mặt hiện nay của "địa cầu" và của "trần thế" mà người tín hữu phải là "muối mặn", phải là "ánh sáng"?

 

Thế giới hôm nay thay đổi mau lẹ, có nhiều t́nh trạng khác biệt nhau nên có nhiều cách đặt vấn đề. V́ thế phải thận trọng, không nên "vơ đũa cả nắm", cũng không nên đơn giản hóa quá đáng. Nhưng cũng có thể ghi được một vài khuynh hướng đang phát sinh trong xă hội ngày nay. Cũng như trong cánh đống Phúc Âm cỏ dại và giống tốt cùng đồng thời mọc lên, trong lịch sử là hư trường của tự do con người cũng thế, điều thiện, điều ác, bất công và công lư, lo âu và hy vọng cùng đi song đôi, có khi lại quyến chặt vào nhau.

 

TỤC HÓA VÀ NHU CẦU TÔN GIÁO

 

4. Làm sao chúng ta không nghĩ đến t́nh trạng lănh đạm đối với tôn giáo đang phổ biến không ngừng và thuyết vô thần ở dưới nhiều h́nh thức khác nhau, nhất là dưới h́nh thức rất phổ thông là phong trào tục hóa? Con người say mê theo những cuộc chinh phục ngợp trời của khoa học, kỹ thuật tung hoành không giới hạn, và nhất là lâng lâng theo chước cám dỗ, một chước cám dỗ vừa rất cũ nhưng vẫn luôn mới, là muốn đặt ḿnh ngang hàng với Thiên Chúa (Gn. 3,5) bằng việc xử dụng tự do của ḿnh một cách bừa băi. Con người như thế đă tụ ư chặt đứt căn rễ sâu xa tôn giáo của ḿnh. Họ đă bỏ quean Thiên Chúa, cho là Thiên Chúa không có một ư nghĩa ǵ đối với cuộc sống của họ, hoặc chối bỏ Ngài để sấp ḿnh thờ lạy đủ mọi thứ "tà thần".

 

Chủ thuyết tục hóa hiện tại, là một hiện tượng rất nghiêm trọng. Không những nó làm tổn thương đến cá nhân, nhưng c̣n đến cả những cộng đồng, như Công Đồng đă ghi: "Nhiều đoàn lũ ngày càng đông đảo xa rời tôn giáo trong đời sống thực tế" (8). Chính Ta cũng đă nhiều lần nhắc nhở, hiện tượng tục hóa đă đánh ngă nhiều dân tộc có truyền thống Công Giáo rất xa xưa, và hiện tượng này đ̣i hỏi phải cấp tốc có một tổ chức truyền giáo mới.

 

Nhưng, ước vọng và nhu cầu tôn giáo không thể hoàn toàn mai một. Lương tâm mỗi người khi họ có can đảm đương đầu với những vấn nạn về ư nghĩa cuộc sống, ư nghĩa đau khổ và sự chết, họ không thể ngần ngại kêu lên như thánh Agustinô: "Lạy Chúa, Chúa đă dựng nên con cho Chúa, v́ thế tâm hồn con không thể an nghỉ cho đến khi được an nghỉ trong Chúa" (9). Như vậy, thế giới hôm nay, dưới nhiều h́nh thức ngày càng phổ biến, ngày càng linh động, họ làm chứng rằng con người đang mở mắt nhận ra cuộc sống có cái ǵ thiêng liêng và siêu việt, trở về với ư thức thần thánh qua việc cầu nguyện, và đ̣i hỏi tự do kêu cầu danh Chúa.

 

NHÂN VỊ CON NGƯỜI: PHẨM GIÁ BỊ CHÀ ĐẠP VÀ ĐƯỢC CA TỤNG

 

5. Chúng ta hăy nghĩ đến vô số điều xúc phạm đến phẩm giá con người. Khi phẩm giá con người là h́nh ảnh sống động của Thiên Chúa không được nh́n nhận và yêu thương (Jn. 1,26), th́ họ trở nên công cụ, nô lệ cho bạo quyền dưới nhiều h́nh thức thật sai lạc và bỉ ổi. "Kẻ cường bạo" này mang nhiều bộ mặt khác nhau: nó là ư thức hệ, là quyền lực kinh tế, hệ thống chính trị bất nhân, kỹ thuật chuyên chế khoa học, hoặc bá chủ "phương tiện truyền thông xă hội". Lại một lần nữa, chúng ta thấy trước mặt một số lớn anh chị em chúng ta; quyền lợi căn bản do họ bị cướp đoạt, có khi là do hậu quả của thái độ dung túng quá đáng, có khi là do bất công trắng trợn của những bộ nhân luật: chẳng hạn quyền được sống, quyền được bảo vệ thân xác vẹn toàn, quyền có nhà ở, việc làm, quyền lập gia đ́nh và sinh sản con cái với trách nhiệm làm cha mẹ, quyền tham gia vào đời sống xă hội và chính trị, quyền hưởng tự do long tâm và tự do tôn giáo.

 

Ai có thể kể cho hết số những trẻ thơ không được chào đời v́ đă bị bóp chết trong ḷng mẹ, những trẻ em bị bỏ rơi hoặc bị cha mẹ bạc đăi, những người con lớn lên cô đơn, thiếu t́nh thương và không được giáo dục? Nhiều nơi, không có việc làm và thiếu cả những phương tiện tối thiểu để sống một đời sống xứng đáng là con người. Ngay quanh những đô thị lớn, vẫn thấy nổi lên những xóm nghèo tận mạt, trong đó con người phải sống trong cùng cực khốn khổ cả về thể xác lẫn tinh thần luân lư.

Nhưng tính cách thần thánh của nhân vị con người không thể tiêu diệt được, cho dầu nó phải luôn luôn bị khinh thị và xúc phạm: v́ nền tảng bất di dịch của nó chính là Thiên Chúa, là Đấng Tạo Hóa và là Cha; bởi thế tính cách thần thánh của nhân vị vẫn luôn cần được tôn trọng.

 

Cũng nhờ thế mà hiện nay ư thức về phẩm giá của con người ngày càng được minh định và phổ biến sâu rộng. Một luồng khí lành mạnh tốt đẹp đang thổi đến và bao trùm các dân tộc trên thế giới giúp ư thức hơn về phẩm giá con người: con người không phải là "một sự vật" hay" một đồ vật" mà người ta có thể xử dụng, nhưng nó luôn luôn và độc nhất là một "chủ thể" có lương tri và tự do, được mời gọi sống với tinh thần trách nhiệm trong xă hội và lịch sử, được đặt định để hướng về giá trị thiêng liêng và tôn giáo.

 

Có thể xác quyết được rằng thời đại chúng ta là thời đại của những "chủ nghĩa nhân bản". Ngược lại, những chủ nghĩa xuất phát từ vô thần và tục hóa lại chủ trương trái ngược, hạ bệ và tiêu diệt con người, những chủ thuyết suy tôn con người quá đáng đến nỗi rơi vào những h́nh thức tôn thờ thần tượng. Tuy nhiên cũng có những chủ thuyết đi đúng theo sự thật, nh́n nhận tính cách vừa cao cả vừa khốn khổ của con người, nâng đỡ và hỗ trợ phẩm giá toàn diện của con người.

 

Chúng ta có thể nhận ra dấu hiệu và kết quả của những phong trào nhân bản ấy là con người càng cảm thấy cần nhu cầu hợp tác. Rơ ràng là một trong những nét đặc biệt của nhân loại hôm nay, một "dấu thời gian" chân chính đang chin mùi trong nhiều địa hạt, nhiều lănh vực khác nhau: nhất là trong giới phụ nữ, trong giới thanh niên, trong phạm vi gia đ́nh, học đường, cũng như trong lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xă hội và chính trị. Nhận lănh một vai tṛ, tự tạo cho ḿnh thành vị sáng lập một nền văn hóa nhân bản, đó là một đ̣i hỏi với cá nhân và chung cho toàn thể các dân tộc.(10).

 

TRANH CHẤP VÀ H̉A B̀NH

 

6. Chúng ta cũng không thể bỏ qua một hiện tượng được coi như dấu chứng của ngày nay: có lẽ hơn bất cứ giai đoạn nào của lịch sử, nhân loại hôm nay đang bị lung lay v́ tranh chấp. Đây là một hiện tượng mang nhiều h́nh thức, nó không chỉ là sự đa diện chính đáng tùy tâm trạng hay sáng kiến, nhưng là sự chống đối gây thương tổn giữa người với người, nhóm này với nhóm khác, giữa tầng lớp này với tầng lớp khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác, và giữa khối này với khối khác. Sự chống đối này lộ diện với nhiều h́nh thức của vũ lực, của khủng bố, của chiến tranh. Một lần nữa, những lần này là một con số đông đảo, nhiều nhóm người v́ muốn phô trương "tối cao quyền lực" của ḿnh, đă lập lại điên cuồng xây "Tháp Babel" (Gn 11,1-9), là một hành động chỉ tạo ra hỗn loạn, đấu tranh, chia rẽ, và áp bức. Gia đ́nh nhân loại v́ thế mà phải đảo loan và xâu xé một cách thê thảm.
 

Mặt khác, chúng ta thấy xuất hiện một cách mạnh mẽ không thể đè bẹp được, ước vọng của mỗi người, của các dân tộc được lợi ích vô giá của ḥa b́nh trong công chính.

Một trong tám mối phúc thật của Tin Mừng: "Phúc cho ai xây dựng ḥa b́nh" (Mt 5, 9) t́m thấy trong nhân loại thời đại chúng ta một âm vang mới mẻ và đặc biệt: Toàn thể nhân loại ngày nay sống, chịu đau khổ, và lao động để mang lại ḥa b́nh và công chính. Việc tham dự của nhiều người và nhiều hội đoàn vào đời sống xă hội ngày nay đang tiếp nối nhau cách không ngừng như những phương thế để đem niềm khao khát ḥa b́nh trở thành một sự thật. Trên cùng một con đường, chúng ta bắt gặp nhiều tín hữu giáo dân đang quảng đại dấn thân trong nhiều lănh vực hoạt động chính trị và xă hội dưới nhiều h́nh thức chính trị khác nhau, hoặc một số khác đóng góp ít nhất một cách vô vị lợi vào những hoạt động này.

 

ĐỨC KITÔ, HY VỌNG CỦA NHÂN LOẠI.

 

7. Hiện tại và tương lai một cánh đồng rộng lớn cần nhiều canh tác đang xuất hiện trước những công nhân được gởi tới bởi "chủ nhân" để làm việc trong vườn nho của Ngài.

Trong cánh đồng mà Giáo Hội đang hiện diện và hoạt động này gồm mọi người chúng ta: chủ chăn, linh mục, phó tế, nam nữ tu sĩ và tín hữu giáo dân. Có những t́nh trạng trái ngược được lưu tâm cách sâu xa ảnh hưởng đến Giáo Hội: Chúng tác dụng một phần nào sinh hoạt, nhưng không làm tê liệt hoặc hạn chế thành quả của Giáo Hội. Bởi v́ Thánh Linh, Đấng ban cho Giáo Hội sự sống, sẽ nâng đỡ hoạt động của Giáo Hội.

 

Mặc dù có nhiều khó khăn, đ́nh trệ và mâu thuẫn đủ loại do giới hạn của con người, do tội lỗi và thần dữ, Giáo Hội hiểu rằng mọi nỗ lực của nhân loại để tạo sự hiệp thông và tham gia hợp tác, rồi ra cũng được hợp tác qua việc can thiệp của Đức Giêsu Kitô, vị Cứu Tinh của nhân loại và thế giới.
Giáo Hội biết rơ ḿnh được Đức Kitô sai đến như " dấu hiệu và phương thế của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và sự hiệp nhất của toàn nhân loại" (
11).
V́ thế bất chấp mọi biến cố, nhân loại có thể cậy trông, và phải hy vọng: chính Chúa Kitô là Phúc Âm sống động, là Tin Mừng đem lại vui mừng mà Giáo Hội, loan báo cho chúng ta mỗi ngày, và chính Giáo Hội đă trở thành chứng nhân cho mọi người.

 

Trong việc loan truyền và tŕnh bày chứng nhân này, người tín hữu giáo dân chiếm một chỗ độc đáo và không thay thế được: nhờ họ, Giáo Hội Chúa Kitô được hiện diện trong nhiều địa hạt khác nhau giữa thế giới như dấu hiệu và nguồn mạch hy vọng và t́nh yêu.

 

(6) Second Vatican Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World "Gaudium et Spes", 11
(7) Final Report, II, D,1
(8) Gaudium et Spes, 7
(9) St. Augustine, Confession, I,1: Corpus Christianorum, Serie Latina 27,1.
(10) Cf. Working paper, "The Vocation and Mission of the Lay Faithful in the Church and in the World 20 years after the Second Vatican Council" 5-10.
(11) Lumen Gentium, 1.

 

CHƯƠNG I

 

TA LÀ CÂY NHO, CÁC CON LÀ CÀNH

Phẩm giá của người Tín Hữu Giáo Dân trong Giáo Hội Mầu Nhiệm.

 

MẦU NHIỆM CÂY NHO

 

8. H́nh ảnh cây nho trong Thánh Kinh được dùng nhiều cách và nhiều ư nghĩa. Đặc biệt nó được dùng để diễn tả mầu nhiệm Dân Chúa. Theo ư nghĩa này, người giáo dân không những chỉ là những người thợ làm việc trong vườn nho, nhưng họ là một phần tử cây nho. Chúa nói: "Ta là cây nho, các con là cành" (Ga 15, 5).

 

Trong Cựu Ước các tiên tri khi muốn nói đến dân được chọn, cũng ưa dùng h́nh ảnh cây nho. Israel là cây nho của Thiên Chúa, là niềm vui của tâm hồn Ngài: "Ta đă trồng ngươi như một cây nho được chọn lọc" (Jer 2, 21); "Mẹ ngươi giống như một cậy nho trồng bên bờ nước. Nó sai trái và um tùm hoa lá nhờ có nhiều nước tràn trề" (Ez 19, 10); "Người bạn tôi có một vườn nho trên một sườn đồi ph́ nhiêu. Ông cầy bừa trở đất lượm đá sỏi để trồng vào đó một cây hảo hạng..." (Is 5, 1-2).

 

Chính Đức Giêsu cũng dùng h́nh ảnh cây nho để mạc khải một số khía cạnh về Nước Thiên Chúa: "Một người kia trồng một vườn nho, ông rào dậu bốn bề, một hầm ép nho, và xây một tháp canh rồi ông cho các người làm nho thuê mướn và ông khởi hành đi xa" (Mc 12,1 - Mt 21, 28).
 

Thánh sử Gioan c̣n mời chúng ta đi xa hơn, và đưa chúng ta đến khám phá mầu nhiệm của cây nho: Nó là biểu tượng và h́nh ảnh không những của dân Thiên Chúa, mà c̣n là biểu tượng và h́nh ảnh của chính Đức Giêsu. Ngài là gốc cây nho, c̣n chúng ta, môn đệ Ngài, chúng ta là cành. Ngài là "Cây Nho thật", các cành phải kết hợp để được sống (Ga 15,1...).

 

Công Đồng Vaticanô II lấy lại h́nh ảnh Thánh kinh để giải thích mầu nhiệm Giáo Hội, cũng đưa ra h́nh ảnh cây nho và cành: "Cây nho thật là chính Chúa Kitô; chính Ngài ban phát sự sống và sức sinh sản cho các cành là chúng ta. Qua Giáo Hội, chúng ta sống trong Ngài, và không Ngài chúng ta chẳng làm được việc ǵ" (Ga 15, 1-5) (12). 

Như thế, chính Giáo Hội là vườn nho nói trong Thánh Kinh. Là mầu nhiệm bởi v́ t́nh thương và sự sống của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, là ân huệ tuyệt đối ban nhưng không cho tất cả những ai được sinh ra bởi nước và Thánh Linh (Ga 3, 5), được gọi để sống chính sự hiệp thông của Thiên Chúa, để bày tỏ và thông truyền sứ mệnh hiệp thông này trong lịch sử. Chúa Giêsu nói: "Trong ngày ấy các con sẽ biết rơ Thầy ở trong Cha Thầy, và các con ở trong Thầy và Thầy ở trong các con" (Ga 14, 20).

 

Người giáo dân chỉ nhận diện ḿnh, nhận chân bản tính nguyên thủy của ḿnh bên trong mầu nhiệm của Giáo Hội là mầu nhiệm hiệp thông. Ơn gọi cũng như sứ mệnh trong Giáo Hội và thế giới của người giáo dân cũng chỉ định nghĩa được bên trong phẩm giá này.

 

NGƯỜI GIÁO DÂN LÀ AI?

 

9. Các Nghị Phụ đă nêu lên một nhận xét chính đáng là phải minh định cách rơ ràng về ơn gọi và sứ mệnh của tín hữu giáo dân, qua việc nghiên cứu sâu xa giáo lư của Công Đồng Vaticanô II, theo ánh sáng của các văn kiện mới của Giáo Hội, và kinh nghiệm sống của Giáo Hội được hướng dẫn do Chúa Thánh Thần. (13)

 

Để trả lời câu hỏi người tín hữu giáo dân là ai, Công Đồng đă đi xa hơn với lối giải thích tiêu cực trước đây, bằng một cái nh́n hoàn toàn tích cực. Công Đồng đă đưa ra ư hướng căn bản và đầy đủ thuộc về người giáo dân đối với Giáo Hội và mầu nhiệm của Giáo Hội. Ơn gọi đặc biệt của họ là "t́m nước Chúa trong khi quản trị các việc trần thế mà họ sắp xếp theo ư Chúa" (14). Hiến chế Anh Sáng Muôn Dân (Lumen Gentium) c̣n thêm: "Danh hiệu giáo dân có nghĩa là tất cả các Kitô hữu không thuộc về thành phần chức thánh hay bậc tu tŕ được Giáo Hội công nhận, nghĩa là các Kitô hữu đă được rửa tội, sát nhập vào thân thể Chúa Kitô, được nhập tịch Dân Chúa, được trở thành kẻ tham gia theo cách của ḿnh vào chức vụ tư tế, chức vụ rao giảng Lời Chúa và chức vụ vương giả của Chúa Kitô; họ là những người thi hành sứ mệnh của toàn dân Kitô hữu trong Giáo Hội và giữa trần thế theo mhiệm vụ riêng của ḿnh". (15)

 

Đức Piô XII đă quả quyết: "Các tín hữu, nói một cách rộng hơn, là các giáo dân là kẻ đứng ở mặt trận tiền phong trong đời sống của Giáo Hội. Nhờ họ, Giáo Hội trở nên nguyên lư sự sống cho xă hội loài người. V́ thế, chính họ phải ư thức ngày càng rơ rệt là họ không những thuộc về Giáo Hội, mà là Giáo Hội; nghĩa là cộng đồng các tín hữu trên mặt đất, dưới sự hướng dẫn của vị thủ lănh chung là Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục hiệp thông với Ngài. Họ là Giáo Hội." (16)

 

Theo h́nh ảnh Thánh Kinh về cây nho, người tín hữu giáo dân cũng như tất cả các phần thân thể khác của Giáo Hội, là những cây nho tháp nhập vào Đức Kitô là Cây Nho thật; chính nhờ Ngài mà họ được sống và trổ sinh hoa trái.

 

Được ghép vào Đức Kitô nhờ Đức Tin và phép Thánh Thể, là gốc rễ đầu tiên tạo nên thân phận mới của người Kitô hữu trong mầu nhiệm Giáo Hội, tạo nên sắc thái căn bản, và là nền tảng của tất cả mọi ơn gọi và hoạt động Kitô hữu của người tín hữu giáo dân. Trong Đức Kitô chết và sống lại, người đă rửa tội trở nên một "thụ tạo mới"(Gal 6, 12 - 2Cor 5, 17), một thụ tạo được thanh tẩy hết tội lỗi và sống trong ơn nghĩa Chúa.

 

Như thế "h́nh ảnh" người giáo dân được phác họa dựa vào kho tàng phong phú mầu nhiệm Thiên Chúa đă ban cho người Kitô hữu trong bí tích Rửa Tội.

 

PHÉP RỬA TỘI VÀ THÂN PHẬN MỚI CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU

 

10. Không phải là quá đáng khi chúng ta quả quyết rằng: toàn cuộc sống của người tín hữu giáo dân chỉ có mục đích là đưa họ đến nhận biết mầu nhiệm chính yếu của họ phát xuất từ phép Rửa Tội, là bí tích Đức Tin, để họ có thể sống nghĩa vụ theo ơn gọi Chúa đă chỉ định. Để phác họa "h́nh ảnh" người tín hữu giáo dân, chúng ta hăy kiểm xét một cách trực tiếp và rơ ràng các khía cạnh căn bản sau đây: phép Rửa Tội đă tái sinh chúng ta trong sự sống Con Chúa; nó hợp nhất chúng ta với Chúa Kitô, với thân thể Ngài là Giáo Hội, xức dầu cho chúng ta trong Chúa Thánh Thần bằng cách làm cho chúng ta trở nên những đền thờ thiêng liêng.

 

CON CHÚA TRONG NGƯỜI CON MỘT

 

11. Chúng ta nhớ lại những lời của Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô: "Ta nói thật với ông, hễ ai chẳng sinh lại bởi nước và Thánh Linh, th́ không được vào nước Thiên Chúa" (Ga 3,5). Phép Rửa Tội là một sinh hạ mới, một cuộc tái sinh.

 

Chính khi nghĩ đến khía cạnh này của phép Rửa Tội mà thánh Phêrô tông đồ đă ca lên: "Chúc tụng Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, v́ ḷng từ bi cao cả Ngài đă tái sinh chúng ta nhờ sự sống lại của Đức Giêsu Kitô từ trong kẻ chết, để chúng ta được hưởng gia tài bất diệt, không tỳ ố, cũng không tàn héo" (1 Pt 1, 3-4), và Người gọi là Kitô hữu những ai Chúa đă "tái sinh, không phải do hạt giống hay hư nát, nhưng do hạt giống bất diệt là Thiên Chúa hằng sống và tồn tại muôn thuở" (1 Pt 1, 23).

 

Nhờ phép Rửa, chúng ta trở nên con cái nam nữ của Thiên Chúa, trong Con Một của Ngài, là Đức Giêsu Kitô.

Khi ra khỏi giếng Rửa tội, mỗi người Kitô hữu đều được nghe tiếng đă phán trước kia trên bờ sông Giođanô: "Con là Con Ta yêu dấu, rất đẹp ḷng Ta" (Lc 3, 22). Và như thế họ hiểu là họ được kết hợp với Người Con yêu dấu v́ đă trở thành dưỡng tử (Gal 4, 4-7), và là anh em của Chúa Kitô. Như thế, được thể hiện trong lịch sử cuộc đời của Thiên Chúa: "Những ai Ngài đă nhận biết trước, th́ Ngài định cho họ được trở nên h́nh ảnh Con Ngài, để làm cho Con Ngài trở thành trưởng tử của vô số anh em" (Rom 8, 29).

 

Chính Chúa Thánh Thần làm cho những người đă rửa tội trở nên con cái nam nữ của Thiên Chúa, và đồng thời trở nên chi thể của thân thể Đức Kitô. Thánh Phaolô đă nhắc lại cho các Kitô hữu thành Côrintô: "Tất cả chúng ta đă được rửa tội trong một Thánh Thần độc nhất để làm thành một thân thể" (1Cor 12, 143) đến nỗi Thánh tông đồ có thể nói với các tín hữu giáo dân của Ngài: "Anh em là thân thể Chúa Kitô, và mỗi người đều là chi thể" (1Cor 12, 27); "Và đây là chứng cớ rơ ràng anh em là con cái, được Thiên Chúa sai đến, Thần Linh của Con Ngài ở trong tâm hồn chúng ta" (Gal 4, 6 - Rom 8, 15-16).

 

Chú thích: (12) Lumen Gentium, 1; (13) Cf. Proposition 3; (14) và (15) Lumen Gentium, 31; (16) Pius XII, Discourse to the new cardinals, Feb. 20, 1946: A AS 38, 149.

MỘT THÂN THỂ TRONG ĐỨC KITÔ

 

12. Được tái sinh trở thành"con trong người Con", những ai đă chịu phép Rửa Tội đều là "chi thể của Đức Kitô và cũng là thành phần trong nhiệm thể của Giáo Hội" theo như giáo huấn của Công Đồng Florence (17).

 

Phép Rửa Tội có ư chỉ và đồng thời phát sinh sự tháp nhập mầu nhiệm, nhưng thật sự vào thân thể bị đóng đinh và vinh hiển của Đức Giêsu Kitô. Nhờ Bí Tích ấy, Chúa Giêsu kết hợp người chịu phép Rửa Tội với cái chết của Ngài để kết hợp họ với sự sống lại của Ngài (Rom 6, 3-5), lột bỏ "con người cũ" để mặc cho họ "con người mới", nghĩa là chính Ngài: "Tất cả anh em đă được Rửa Tội trong Đức Kitô, anh em được mặc lấy chính Đức Kitô (Gal 3, 27; Eph 4, 22-24; Col 3, 9-10). Bởi đó "mặc dầu là số đông, chúng ta chỉ là một thân thể trong Đức Kitô" (Rom 12,5).

 

Các lời của thánh Phaolô là những tiếng vọng trung thực giáo huấn của chính Đức Kitô, nó đă mạc khải cho chúng ta thấy sự hợp nhất nhiệm mầu của các môn đệ với Ngài và giữa họ với nhau, tŕnh bầy sự hợp nhất ấy như là h́nh ảnh và sự nối tiếp của sự thông hiệp nhiệm mầu giữa Chúa Cha với Chúa Con, và Chúa Con với Chúa Cha trong mối dây t́nh thương của Chúa Thánh Thần (Ga 17, 21). Chính Chúa Giêsu đă đề cập đến sự hợp nhất này khi Ngài dùng h́nh ảnh cây nho và cành nho: "Ta là cây nho, chúng con là cành" (Ga 15, 5). Một h́nh ảnh nói lên không những sự mật thiết sâu xa của các môn đệ với Chúa Giêsu, mà cũng biểu lộ sự thông hiệp sinh động giữa các môn đệ: tất cả đều là cành của một cây nho duy nhất.

 

ĐỀN THỜ SỐNG ĐỘNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN

 

13. Trong một h́nh ảnh so sánh khác là h́nh ảnh của một ngôi nhà, thánh Phêrô tông đồ đă định nghĩa các người đă chịu phép Rửa Tội như những "viên đá sống động" xây trên Đức Kitô là "viên đá góc". V́ thế, các người đă chịu phép Rửa Tội được dành riêng "xây đền thờ thiêng liêng" (1 Pt 2,5).

 

H́nh ảnh này đưa chúng ta vào một khía cạnh mới lạ khác do phép Rửa Tội đem lại, mà Công Đồng Vatican II tŕnh bày qua những lời sau đây: "V́ chưng những kẻ đă rửa tội, nhờ sự tái sinh và ơn xức dầu của Chúa Thánh Thần, họ được hiến dâng để trở nên một ṭa nhà thiêng liêng" (18).

 

Chúa Thánh Thần "xức dầu" kẻ chịu phép Rửa Tội, đóng trên họ ấn tín không thể xóa bỏ (2 Cor 1, 21-22), làm cho họ trở thành đền thờ thiêng liêng, nghĩa là thông ban tràn đầy sự hiện diện của Thiên Chúa nhờ kết hợp và nên giống Đức Giêsu Kitô.

 

Người Kitô hữu, nhờ ơn "xức dầu" này làm cho mạnh dạn, có thể lặp lại những lời của Chúa Giêsu theo cách của ḿnh "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, v́ Ngài đă xức dầu thánh hiến tôi; sai tôi đem Tin Mừng cho kẻ nghèo khổ, loan tin giải phóng cho kẻ bị cầm tù, đem sự sáng cho kẻ đui mù, đem tự do cho kẻ bị áp bức, và loan báo năm Hồng ân của Chúa" (Lc 4, 18-19; Is 61, 1-2).

 

Như thế, nhờ ơn Chúa đổ tràn xuống qua phép Rửa Tội và phép Thêm Sức, người đă được rửa tội tham gia vào sứ mệnh của Đức Giêsu Kitô, Đấng Thiên Sai Cứu Thế.

 

THAM GIA VÀO CHỨC VỤ TƯ TẾ, RAO GIẢNG VÀ VƯƠNG GIẢ CỦA ĐỨC KITÔ.

 

14. Khi nói với những người đă chịu phép Rửa Tội, thánh Phêrô tông đồ xem họ như "những người con mới sinh", Người viết: "Chúng con hăy lại gần Ngài, Ngài là tảng đá hằng sống, mà loài người loại bỏ nhưng Thiên Chúa đă chọn v́ Thiên Chúa đă thẩm định giá trị. Chúng con cũng thế, chúng con hăy trở nên những viên đá sống động dùng để xây dựng đền thờ thiêng liêng, dâng lên những của lễ thiêng liêng mà Thiên chúa có thể chấp nhận nhờ Đức Giêsu Kitô. Thật vậy, chính chúng con là ḍng dơi được lựa chọn, là hàng tư tế vương giả, là một dân tộc thánh, một dân tộc thuộc về Thiên Chúa; như thế chúng con có trách nhiệm rao giảng những kỳ vọng của Đấng đă gọi chúng con từ bỏ bóng tối đến ánh sáng lạ lùng của Ngài" (1 Pt 2, 5-9).

 

Đó là một khía cạnh mới mẻ của ân sủng và của phẩm giá phép Rửa Tội. Người tín hữu giáo dân, về phần riêng họ cũng tham dự vào ba chức vụ của Đức Kitô, là chức tư tế, rao giảng và vương giả. Đây là khía cạnh mà truyền thống Giáo Hội không bao giờ lăng quên, như thánh Augustinô đă tŕnh bày khi chú giải Thánh Vịnh 26: "Đavít nhận lănh nghi lễ xức dầu làm Vua. Trong thời ấy chỉ có Vua và Tư Tế được xức dầu. Hai vị này tiên báo h́nh ảnh vị Vua - Thượng Tế độc nhất - Đức Kitô (tiếng Kitô bởi chữ "Chrisma" có nghĩa là xức dầu). Không chỉ vị thủ lănh của chúng ta, là thân thể của Ngài, chúng ta cũng được xức dầu với Ngài... V́ thế mọi Kitô hữu đều được xức dầu, trái với thời Cựu Ước chỉ có hai người được xức dầu. Nếu chúng ta là thân thể Đức Kitô, v́ tất cả chúng ta được xức dầu trong Ngài và trở thành một Đức Kitô trọn vẹn" (19).

 

Theo đường lối của Công Đồng Vaticanô II (20), ngay từ khi mới bắt đầu công việc mục vụ, Ta đă lưu ư ca tụng phẩm chức tư tế, rao giảng và vương giả của toàn dân Thiên Chúa. Ta nói: "Đấng đă sinh ra bởi Trinh Nữ Maria, Con của bác thợ mộc theo người đời ấy nghĩ tưởng, nhưng là Con Thiên Chúa hằng sống như thánh Phêrô tuyên bố, đă đến để làm cho chúng ta tất cả trở nên "một vương quốc linh mục". Công Đồng Vaticanô II đă nhắc nhở cho chúng ta về mầu nhiệm của quyền bính này, và về sứ mạng của Đức Kitô là Linh Mục, là Thầy rao giảng, là Vua vẫn tiếp tục trong Giáo Hội. Tất cả mọi người, toàn dân Thiên Chúa tham gia vào ba sứ mệnh này" (21).

 

Với bức Tông Huấn này, Ta muốn kêu mời một lần nữa tất cả mọi tín hữu giáo dân đọc lại và suy ngắm, để lănh hội một cách tường tận và yêu mến say mê giáo huấn súc tích và phong phú của Công Đồng đề cập đến về việc họ tham gia vào ba chức vụ của Đức Kitô (22). Và đây là một tổng hợp những căn bản của giáo huấn ấy.

 

Các tín hữu giáo dân tham gia vào trách vụ tư tế; đó là trách vụ Chúa Giêsu đă dùng để hiến tế ḿnh trên Thánh Giá và c̣n tiếp tục hiến tế ḿnh trong nghi lễ phép Thánh Thể để làm vinh danh Đức Chúa Cha và cứu rỗi nhân loại. Được ghép vào Đức Giêsu Kitô, những ai đă được chịu phép Rửa Tội đều được kết hợp với Ngài bằng việc dâng hiến chính ḿnh và các hoạt động của ḿnh (Rom 12, 1-2). Khi nói đến người tín hữu giáo dân, Công Đồng tuyên bố: "Tất cả những hoạt động của họ, những lời cầu nguyện cũng như các hoạt động tông đồ, đời sống hôn nhân, gia đ́nh, những công việc lao động hằng ngày, các việc giải trí, tinh thần thể xác, nếu tất cả đều được hướng dẫn do Thần Linh Thiên Chúa, ngay cả những thử thách của cuộc đời, miễn là chịu đựng một cách nhẫn nại, tất cả trở thành của lễ thiêng liêng đẹp ḷng Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô (1 Pt 2,5). Trong Thánh Lễ, các của lễ này hiệp với Ḿnh Chúa được dâng lên cho Đức Chúa Cha với tâm hồn sốt sắng. Như thế người giáo dân thánh hiến cho Thiên Chúa chính cả trần thế này. Nhờ ḷng phụng thờ Chúa khắp mọi nơi bằng một đời sống thánh thiện" (23).

 

Việc tham gia vào trách vụ rao giảng của Đức Kitô "là Đấng lấy cả cuộc sống ḿnh cũng như lấy sức mạnh của lời nói để tuyên bố vương quốc Chúa Cha" (24), sự tham gia này làm cho người giáo dân có đủ năng cách và dấn thân để nhận lănh Phúc Âm trong Đức Tin, để rao giảng bằng lời nói và hành động, và để tố cáo một cách bạo dạn không do dự những ǵ là điều ác. Người tín hữu giáo dân hợp nhất với Đức Kitô "vị đại Tiên Tri" (Lc 7, 16) và được đặt làm "chứng nhân" của Đức Kitô Phục Sinh trong Chúa Thánh Thần, họ trở thành những người tham dự vào ư thức Đức Tin siêu nhiên của Giáo Hội "không thể sai lầm trong Đức Tin" (25) cũng như tham gia vào ân sủng của lời nói (Cv 2, 17-18; Ap 19, 10). Hơn nữa họ được gọi để chiếu sáng sự mới lạ và sức mạnh của Phúc Âm trong đời sống thường ngày, trong đời sống gia đ́nh và xă hội của họ, cũng như để diễn tả niềm hy vọng vinh quang "ngay cả trong những cơ cấu của cuộc sống trần thế" (LG 35) với một tâm hồn nhẫn nại và can đảm giữa những khó khăn của thời hiện đại (26).

 

Người tín hữu giáo dân thuộc về Đức Kitô là Chúa tể là Vua vũ trụ, nhờ đó họ được tham gia vào trách vụ vương giả của Ngài, và được Ngài kêu gọi để phục vụ và phổ biến Ngài trong lịch sử. Họ sống vương quyền Kitô hữu trước tiên bằng cách chiến đấu và chiến thắng thế gian tội lỗi (Rom 6, 12) ngay trong chính ḿnh họ, rồi hiến dâng ḿnh để phục vụ trong đức bác ái và trong công bằng. Chính Đức Kitô hiện diện trong mọi người anh em, nhất là trong những người thấp hèn nhất (Mt 25, 40).

 

Nhưng người tín hữu giáo dân được gọi đặc biệt để đem lại cho các tạo vật những giá trị nguyên thủy của nó. Khi hoạt động trong ơn nghĩa Chúa, người giáo dân liên kết mọi thụ tạo và lợi ích chân thật của con người. Làm như thế, họ được tham gia vào việc thi hành quyền bính của Đức Kitô Phục Sinh là Đấng đă lôi kéo mọi sự về Ngài, và đặt mọi sự và chính ḿnh dưới quyền Đức Chúa Cha, để Thiên Chúa trở nên mọi sự trong mọi người (Ga 12, 32; 1 Cor 18, 28).

 

Sự tham gia của giáo dân vào ba chức vụ của Chúa Giêsu Linh Mục, rao giảng và Vua bắt nguồn từ việc xức dầu của phép Rửa Tội, được phát triển nhờ phép Thêm Sức, được nâng đỡ và kiện toàn trong phép Thánh Thể. Đây là sự tham gia ban cho mỗi tín hữu giáo dân, nhưng với tư cách là họ tạo thành một thân thể duy nhất của Chúa Kitô. Bởi v́ Chúa Giêsu làm cho Giáo Hội được sung túc bằng các ân huệ của ḿnh, v́ Giáo Hội là thân thể và là Hiền thê của Ngài. Như thế mỗi người được tham gia vào ba sứ vụ của Đức Kitô chỉ v́ họ là phần thân thể của Giáo Hội, như thánh Phêrô tông đồ đă dạy khi gọi những người đă chịu phép Rửa Tội "là ḍng giống được lựa chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, là dân tộc thuộc về Thiên Chúa" (1 Pt 2, 9). Và cũng v́ nó bắt nguồn từ sự thông hiệp trong Giáo Hội nên việc tham dự của các tín hữu giáo dân vào ba chức vụ của Đức Kitô đ̣i hỏi phải sống và thực hiện trong sự thông hiệp, và để cho sự thông hiệp ngày càng tăng trưởng. Thánh Augustinô viết: "Cũng như chúng ta tất cả được gọi là Kitô hữu (Christiani) v́ đă được xức dầu (Chrisma) một cách thiêng liêng, do đó tất cả được gọi là linh mục, bởi v́ chúng ta lthành phần thân thể của Linh Mục duy nhất". (27)

 

Chú thích: (17) Ecumenical Council of Florence, Decr. Pro Armeńs, Denzinger - Schommetzer, Enchiridion Symbolorum, 1314; (18) Lumen Gentium, 10; (19) St. Augustine, Ennar, in Ps. XXVI, II,2: CCL 38, 154ff; (20) Cf. Lumen Gentium,10; (21) John Paul II, Homily at the beginning of his pastoral ministry as supreme shepherd of the church (Oct. 22, 1978): AAS 70 (1978), 946; (22) Cf. the renewed proposal of this teaching in the 1987 synod's Working Paper, 25; (23) Lumen Gentium, 34; (24) Ibid., 35; (25) Ibid., 12; (26) Ibid., 25; (27) St. Augustine, De Civitate Dei, XX, 10: CCL 48, 720.

 

NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN VÀ TÍNH CÁCH TRẦN THẾ.

 

15. Tính chất mới lạ của đời sống Kitô hữu là nền tảng và tước hiệu của sự b́nh đẳng giữa tất cả những ai đă chịu phép Rửa Tội trong Đức Kitô, giữa tất cả những thành phần của Dân Chúa: "Phẩm giá của tất cả mọi thành phần đều giống nhau v́ mọi thành phần đều cùng được tái sinh trong Đức Kitô; ơn làm nghĩa tử cũng như nhau; mọi người cùng đều được kêu gọi đến sự trọn lành; chỉ có một ơn cứu rỗi, một đức cậy trông, một đức ái không phân chia" (28). Nhờ phẩm giá chung do phép Rửa Tội này, người tín hữu giáo dân là người đồng trách nhiệm với tất cả các vị thừa tác viên đă được phong chức thánh, với các tu sĩ nam nữ, đối với sứ mệnh của Giáo Hội.

 

Nhưng phẩm giá chung do phép Rửa Tội nơi người tín hữu giáo dân có một h́nh thái làm cho họ khác biệt, nhưng không chia cắt họ khỏi linh mục và tu sĩ nam nữ. Công Đồng Vaticanô II đă diễn tả h́nh thái này chủ tại trong tính cách trần thế: "tính cách trần thế là đặc tính riêng biệt của giáo dân" (29).

 

Muốn hiểu rơ một cách đầy đủ vị trí chuyên biệt của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội, phải đào sâu h́nh thức thần học của tính cách trần thế theo ánh sáng của chương tŕnh cứu chuộc của Thiên Chúa, và mầu nhiệm của Giáo Hội.

 

Như Đức Phaolô VI quả quyết, Giáo Hội "mang tính chất trần thế chính tông, bẩm sinh trong bản tính thâm sâu và sứ mệnh của ḿnh; gốc rễ nó nằm trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể và thực hiện dưới nhiều h́nh thức khác nhau đối với các thành phần của ḿnh." (30)

 

Tuy Giáo Hội sống giữa trần thế, mà không thuộc về trần thế (Ga 17,16). Giáo Hội được sai đi để tiếp nối công tŕnh Cứu Chuộc của Đức Giêsu Kitô; công tŕnh này "chính là lo cứu rỗi con người, nhưng cũng bao gồm việc canh tân những trật tự thế giới" (31).

 

Dĩ nhiên mọi thành phần của Giáo Hội đều phải tham gia vào lănh vực trần thế của Giáo Hội, nhưng bằng những cách thế khác nhau. Đặc biệt sự tham gia của người giáo dân có h́nh thái thực hiện và chức vụ "riêng rẽ và đặc biệt" theo như Công Đồng phân tích. Chính những h́nh thái này đă được gọi là "tính cách trần thế" (32). Trong thực tế, khi Công Đồng nói về thân thế của các tín hữu giáo dân, trước khi tiên chỉ thân thế ấy như nơi chỗ họ được Thiên Chúa gọi: "Đó là nơi họ được gọi" (33). Đây là 'nơi" được tŕnh bày với từ ngữ có nghĩa hoạt động, các tín hữu giáo dân "sống giữa đời, nghĩa là dấn thân vào đủ mọi nghĩa vụ và công tác của trần thế, trong những điều kiện thường nhật của đời sống gia đ́nh và xă hội tạo nên" (34). Đó là những con người đang sống một đời sống thông thường giữa thế giới, đang học hành, đang làm việc, đang tạo nên những t́nh bạn, những tương giao xă hội, nghề nghiệp, văn hóa. Công Đồng không nh́n thân phận của họ một cách đơn giản do khuôn mẫu những điều kiện và môi trường bên ngoài, nhưng t́m gặp đầy đủ ư nghĩa của nó trong Đức Giêsu Kitô (35). Công Đồng lại quả quyết: "Ngôi Lời nhập thế đă muốn đích thân chia sẻ t́nh liên đới nhân loại. Người thánh hóa những mối liên hệ của con người, nhất là những liên hệ gia đ́nh là nguồn gốc phát sinh những liên hệ xă hội. Người đă tự nguyện tuân theo luật lệ quốc gia của Người. Người đă muốn sống cuộc sống thợ thuyền với người đương thời trong quê hương ḿnh" (36).

 

Như vậy, "thế giới", đă trở nên môi trường và phương thế cho ơn kêu gọi Kitô hữu của người tín hữu giáo dân, v́ chính trần thế được chỉ định để tôn vinh Chúa Cha trong Đức Kitô. Với ư nghĩa này, Công Đồng có thể giải thích ư nghĩa riêng tư và đặc biệt ơn gọi của Thiên Chúa muốn kêu mời các tín hữu giáo dân. Họ không phải được kêu mời để bỏ vị trí của ḿnh giữa thế giới. V́ phép Rửa Tội không kéo họ ra khỏi thế giới như thánh Phaolô tông đồ đă nhấn mạnh: "Hỡi anh chị em, mỗi người hăy ở trước mặt Chúa, trong vị thế ḿnh đang ở khi được kêu gọi" (1 Cor 7,24). Trái lại, phép Rửa Tội trao phó cho họ một ơn gọi liên quan mật thiết với t́nh trạng của họ giữa thế giới. Các tín hữu giáo dân "được gọi, để nhờ sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, họ hành động như men dậy từ bên trong, để thánh hóa thế giới bằng việc thực thi các nhiệm vụ của ḿnh. Như thế họ có thể đem Chúa Kitô đến cho kẻ khác bằng chứng tá của một đời sống sáng chói Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến" (37). V́ vậy, sống và hành động giữa thế giới đối với người tín hữu giáo dân, không chỉ là một thực tại nhân sinh xă hội, mà c̣n là một thực tại chuyên biệt thần học giữa trần thế. Thiên Chúa muốn biểu lộ ư định của Ngài và thông ban cho họ ơn đặc biệt là "t́m nước Thiên Chúa bằng cách quản lư các sự việc trần thế mà họ phải sắp xếp theo ư Thiên Chúa" (38).

 

Theo ư hướng này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đă tuyên bố: "Tính cách trần thế của người tín hữu giáo dân không chỉ được định nghĩa theo quan niệm xă hội, mà theo ư nghĩa thần học. Tính cách trần thế phải hiểu theo ánh sáng của tác động tạo dựng và cứu chuộc của Thiên Chúa, Đấng đă trao phó trần thế này cho con người cả nam lẫn nữ để họ tham gia vào việc tạo dựng, để họ giải thoát thụ tạo khỏi ảnh hưởng của tội lỗi, để họ tự thánh hóa ḿnh trong cuộc sống hôn nhân hoặc độc thân, trong gia đ́nh, trong chức nghiệp và trong các hoạt động xă hội" (39)
 

Vị trí của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội được minh định rơ ràng từ gốc rễ, bắt nguồn từ những mới lạ của đời sống Kitô hữu và đặc tính trần thế của nó. (40)

Các h́nh ảnh trong Phúc Âm nói về muối mặn, ánh sáng và men bột, mặc dầu có ư nói về tất cả mọi tín đồ của Đức Giêsu, nhưng áp dụng cách riêng cho người tín hữu giáo dân. Đó là những h́nh ảnh mang nặng ư nghĩa tuyệt vời, bởi v́ không những nó diễn tả việc hội nhập sâu xa và tham gia toàn diện của các người tín hữu giáo dân trên mặt đất, vào sự sống của thế giới, của cộng đồng nhân loại, nhưng nhất là nói lên nét mới mẻ và độc đáo của một sự hội nhập và tham gia để phổ biến Tin Mừng Cứu Độ.

 

ĐƯỢC KÊU GỌI ĐỂ NÊN THÁNH

 

16. Chúng ta sẽ thấy rơ ràng trọn vẹn phẩm giá của người tín hữu giáo dân nếu chúng ta khảo sát ơn gọi đầu tiên và căn bản mà Chúa Cha kêu mời mỗi người trong Đức Giêsu Kitô qua trung gian của Chúa Thánh Thần: ơn gọi nên thánh, nghĩa là ơn gọi đạt đến sự trọn lành của Đức Ai. Thánh nhân là người đă sống cuộc đời làm chứng nhân phẩm giá của tín hữu Đức Kitô một cách sáng lạn.

 

Công Đồng Vaticanô II đă nói rất rơ ràng về ơn gọi mọi người phải nên thánh. Có thể quả quyết đó là đường hướng chính đă được vạch ra cho con cái nam nữ của Giáo Hội do Công Đồng, một Công Đồng đă được triệu tập để canh tân đời sống Kitô hữu theo ánh sáng Phúc Âm (41). Đường hướng này không chỉ đơn giản là một lời khích lệ luân lư, nhưng đó là một đ̣i hỏi mầu nhiệm của Giáo Hội: Giáo Hội là một cây nho được tuyển chọn, nhờ Giáo Hội, các cành nho được sinh trưởng nhờ nhựa sống của chính Đức Kitô, nhựa sống vừa thánh thiện vừa có sức thánh hóa; Giáo Hội là nhiệm thể, các phần thân thể của Giáo Hội thông phần sự sống thánh thiện của đầu là Đức Kitô; Giáo Hội là hiền thê khả ái của Chúa Giêsu, là Đấng đă hiến thân để thánh hóa Giáo Hội (Eph 5,25). Chúa Thánh Thần là Đấng đă thánh hóa nhân tính Chúa Giêsu trong ḷng trinh nữ Maria (Lc 1,35), th́ cũng chính Chúa Thánh Thần ấy cư ngụ và hoạt động trong Giáo Hội để thông ban cho Giáo Hội sự thánh thiện của Con Thiên Chúa làm người.

 

Ngày nay hơn bao giờ hết, mọi người Kitô hữu phải đi lại con đường canh tân theo tinh thần Phúc Âm, đại độ chấp nhận lời mời của vị tông đồ "phải nên thánh trong mọi tác phong của ḿnh" (1Pt 1,15). Thượng Hội đồng ngoại lệ năm 1985, hai chục năm sau Công Đồng, đă nhấn mạnh kịp thời về t́nh trạng khẩn cấp này: "Giáo Hội trong Đức Kitô là mầu nhiệm, v́ thế Giáo Hội phải được xem như là dấu chỉ, và phương thế của sự thánh thiện. Các vị thánh nam, nữ đă luôn luôn là nguồn gốc canh tân trong Giáo Hội và những giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử Giáo Hội. Ngày hôm nay chúng ta cần có những vị Thánh lớn, chúng ta hăy khẩn khoản cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta những vị Thánh như vậy".(42)

 

Mọi người trong Giáo Hội, v́ là phần thân thể Giáo hội, nên nhận được và chia sẻ ơn gọi nên thánh chung của mọi người. Người tín hữu giáo dân được mời gọi nên thánh, và họ có quyền được mời gọi giống như mọi thành phần khác của Giáo hội: "Tất cả những ai tin vào Đức Kitô, không phân biệt sắc tộc, địa vị, đều được kêu gọi tiến đến sự sung măn của đời sống Kitô hữu và sự trọn lành của Đức Ai" (43). "Tất cả những tín hữu của Đức Kitô đều được mời gọi và có bổn phận nên thánh và nên trọn lành theo địa vị của ḿnh". (44)

 

Ơn gọi nên thánh bắt nguồn từ phép Rửa Tội và được các bí tích khác thêm sinh lực, nhất là phép Thánh Thể. Được mặc lấy Chúa Kitô và được hướng dẫn bởi Thánh Linh Ngài, các Kitô hữu là những "thánh nhân" và v́ thế, có năng cách để dấn thân hầu biểu lộ sự thánh thiện của hành động ḿnh. Thánh Phaolô tông đồ luôn luôn khuyến khích các Kitô hữu sống "như những vị thánh" (Eph 5,3).

 

Sống theo Thánh Linh đem lại kết quả là sự thánh thiện (Rom 6,22; Gal 5,22). Sự sống này khơi dậy trong tâm hồn mọi người và mỗi người đă chịu phép Rửa Tội, ước muốn và đ̣i hỏi phải theo và bắt chước Đức Giêsu Kitô, bằng cách chấp nhận các mối Phúc Thật của Ngài, bằng việc lắng nghe và suy niệm Lời chúa, bằng cách tham gia một cách ư thức và linh động vào đời sống phụng vụ và bí tích của Giáo Hội, bằng việc cầu nguyện cá nhân, trong gia đ́nh hay trong cộng đồng, bằng tâm hồn đói khát sự công chính, bằng việc thực hành giới răn yêu thương trong mọi hoàn cảnh của đời sống, và bằng việc phục vụ anh em, đặc biệt những người khó hèn, nghèo túng và đau khổ.

 

Chú thích: (28) Lumen Gentium, 34. (29) Ibid., 31. (30) Paul VI, talk to the members of secular institutes (Feb. 2, 1972): AAS 64 (1972), 208. (31) Apostolicam Actuasitatem, 5. (32) Lumen Gentium, 31. (33) Ibid. (34) Ibid. (35) Cf. Ibid., 48. (36) Gaudium et Spes, 32. (37) Lumen Gentium, 31. (38) Ibid. (39) Proposition 4. (40) "Full members of the people of God anh the mystical body, they participate through baptism in the threefold priestly, prophetic and kingly mission of Christ; the lay faithful express and exercise the riches of their dignity through their living in the world. What can be an addition or exceptional task for those who belong to the ordained ministry is the typical mission of the lay faithful. Their proper vocation consists 'in seeking the kingdom of God by engaging in temporal affairs and by ordering them according to the plan of God' "Lumen Gentium, 31" (JP II, Angelus talk, 15/3/1987: Insegnamenti X, 1, 561). (41) See, in particular, Lumen Gentium, 39-42, which treats the subject of "the universal call to holinees in the church". (42) Final report, II, A, 4. (43) Lumen Gentium, 40. (44) Ibid. , 42. These solemn and unequivocal affirmations of the council repropose a fundamental truth of the Christian faith. Thus, for example, Pius XI in the enciclycal Casti Connubii ad dressed Christian spouses in the following words: "In whatever state they might be and whatever upright way of life they might have chosen, all must imitate the most perfect example of holiness, proposed by God to humanity, namely, our Lord Jesus Christ, and with the help of God to even reach the highest stage of Christian perfection, shown in the example of the many saints": ASS 22 (1930), 548.

THÁNH HÓA BẢN THÂN GIỮA THẾ GIỚI

 

17.    Ơn gọi nên thánh của người tín hữu giáo dân đ̣i hỏi sống theo tác động của Thánh Linh một cách đặc biệt trong việc hội nhập của họ vào thực tại trần thế, và trong việc tham gia vào các hoạt động trần gian. Chính vị Tông Đồ Cả đă khuyến khích chúng ta như vậy: "Những ǵ chúng ta nói, những ǵ chúng ta làm đều phải thực hiện với danh nghĩa Đức Giêsu Kitô, nhờ Ngài để cảm tạ Thiên Chúa Cha" (Col 3,17). Ap dụng lời của Thánh Tông Đồ cho tín hữu giáo dân, Công Đồng quả quyết một cách cứng rắn: "Họ không được để cho việc gia đ́nh, việc trần thế lấn át đời sống thiêng liêng của ḿnh." (45)

 

Sau Công Đồng, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng tuyên bố: "Sự thống nhất đời sống của người tín hữu giáo dân rất quan trọng: v́ họ phải tự thánh hóa trong cuộc sống hàng ngày, cuộc sống nghề nghiệp và xă hội. Để đáp lại ơn gọi của ḿnh, người tín hữu giáo dân phải xem đời sống thường nhật như một cơ hội kết hiệp với Chúa và thực hiện ư muốn của Ngài, như một cơ hội phục vụ tha nhân bằng cách đưa họ tới hiệp thông với Thiên Chúa trong Đức Kitô". (46)

 

Ơn gọi nên thánh phải được người tín hữu giáo dân nhận thức và sống, không phải như một bổn phận đ̣i hỏi và không thể tránh, nhưng một dấu chỉ chói sáng của t́nh yêu vô biên của Chúa Cha là Đấng đă tái sinh họ trong đời sống thánh thiện. Một ơn gọi như thế, trong những điều kiện ấy, phải được định nghĩa như yếu tố căn bản và không thể phân ĺa của đời sống mới do phép Rửa Tội, và v́ thế, như một yếu tố cấu tạo nên phẩm giá của họ. Đồng thời ơn gọi nên thánh lại được liên kết mật thiết với sứ mệnh và trách nhiệm được trao phó cho người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội và giữa thế giới. Bởi v́ sự thánh thiện đang sống trong tín hữu phát xuất từ việc tham gia vào đời sống thánh thiện của Giáo Hội, tự nó cũng biểu tượng sự đóng góp tiên khởi và căn bản vào việc xây dựng Giáo Hội như là "việc các thánh thông công". Trước cặp mắt đức tin đang mở ra một cảnh tượng lạ lùng: đó là bao nhiêu tín hữu giáo dân, nam và nữ trong cuộc sống và sinh hoạt hằng ngày, không ai hay biết tới họ, đôi khi cũng không ai hiểu được họ, các kẻ quyền hành trần thế không đếm xỉa tới họ, nhưng Chúa Cha nh́n họ đầy vẻ tŕu mến, họ là những người thợ đang miệt mài làm việc trong vườn nho của Chúa, là những người thấp hèn nhưng cao sang v́ nhờ sức mạnh ân sủng của Thiên Chúa, họ đang mở rộng nước Thiên Chúa trong ḍng lịch sử.

 

Phải nh́n nhận sự thánh thiện cũng là nền tảng căn bản và là điều kiện tuyệt đối không thể thay thế được để hoàn thành sứ mệnh của Giáo Hội. Chính sự thánh thiện của Giáo Hội là nguồn gốc sâu nhiệm và là mực thước không sai lầm của hoạt động tông đồ, và nghị lực truyền giáo của Giáo Hội. Giáo Hội hiền thê của Đức Kitô càng được Ngài yêu mến và đáp lại t́nh yêu của Ngài bao nhiêu, th́ Giáo Hội càng trở nên người Mẹ phong phú trong Thánh Linh bấy nhiêu.

 

Một lần nữa, chúng ta hăy lấy lại h́nh ảnh của Thánh Kinh: sự trưởng thành của cành nho tùy thuộc vào sự kết hợp với cây nho: "Cũng như cành nho không tự nó sinh hoa kết quả nếu nó không ở trong cây nho. Cũng thế, chúng con sẽ không đem lại hoa trái nếu chúng con không ở trong Thầy. Thầy là cây nho, chúng con là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong kẻ ấy, họ sẽ mang lại nhiều hoa trái. Bởi v́, ngoài Thầy, chúng con không làm được ǵ" (Ga 15,4-5).

 

Ở đây cần nhắc lại việc tôn phong chân phước hay hiển thánh cho các tín hữu nam, nữ trong thời gian Thượng Hội đồng. Toàn dân Thiên Chúa, nhất là các tín hữu giáo dân có thể t́m ở họ, những vị mô phạm mới cho việc nên thánh, những chứng nhân mới của các nhân đức anh hùng, được thực hiện trong những hoàn cảnh thông thường hằng ngày. Như các Nghị Phụ của Thượng Hội đồng quả quyết: "Các Giáo Hội địa phương, nhất là các Giáo Hội trẻ trung phải lưu ư t́m xem trong con cái ḿnh, những giáo dân nam nữ giữa những cánh đồng như thế (cảnh sống thường nhật ở trần thế và bậc sống vợ chồng) đă sống cghứng nhân thánh thiện và có thể trở nên gương mẫu cho người khác, để đề nghị phong chân phước hay hiển thánh". (47)

 

Suy nghĩ đến đây, để định vai tṛ người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội, Ta nhớ lại lời kêu mời của Thánh Lêo Cả: "Hỡi người tín hữu hăy nhận chân phẩm giá của ḿnh" (48). Đó cũng là điều mà Thánh Maxime, Giám Mục thành Turin nói với những người đă chịu phép Rửa Tội: "Anh em hăy nh́n nhận vinh dự anh em đă được trong mầu nhiệm này" (49). Thất cả những ai đă chịu phép Rửa Tội đều được mời gọi lắng nghe một lần nữa những lời của Thánh Augustinô: "Chúng ta hăy vui mừng và tạ ơn: Không những chúng ta đă được trở nên những Kitô hữu, mà là trở nên Chúa Kitô... Chúng ta hăy vui sướng hân hoan, chúng ta đă trở nên Chúa Kitô!" (50)

 

Phẩm giá người Kitô hữu, nguồn phát sinh sự b́nh đẳng của mọi thành phần Giáo Hội, bảo đảm và cổ vơ tinh thần hiệp thông và huynh đệ, và đồng thời trở nên nguồn sức mạnh âm thầm của nghị lực tông đồ truyền giáo của người tín hữu giáo dân. Tuy nhiên là một phẩm giá đ̣i hỏi nhiều tước vị khác nhau của những người thợ được Chúa gọi vào làm vườn nho của Ngài. Công Đồng nói: "Bởi vậy, nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ư định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tới tất cả mọi người, ở mọi nơi và mọi thời đại" (51)

 

Chú thích: (45) Apostolicam actuositatem, 4. (46) Proposition 5. (47) Proposition 6. (48) St. Leo the Great, Sermo XXI, 3: Sources Chretienne (Christian Sources) 22a, 72. (49) St. Maximus, Tract. III de Baptismo: PL 57, 779. (50) St. Augustine, In Ioann. Evang. Tract. 21,8: CCL 36, 216. (51) Lumen Gentium, 33.

 

CHƯƠNG II
 

TẤT CẢ LÀ CÀNH NHO
CỦA MỘT CÂY NHO DUY NHẤT
 

Sự tham gia của tín hữu giáo dân vào đời sống của Giáo Hội Hiệp Thông.
 

MẦU NHIỆM CỦA GIÁO HỘI THÔNG HIỆP
 

18. Chúng ta hăy nghe lại lời của Đức Giêsu: “Ta là cây nho thật, và Cha Ta là người trồng nho... các con hăy ở trong Ta, như Ta ở trong các con” (Ga 15,1-4).
Chỉ mấy lời đơn sơ này cũng đă mạc khải cho chúng ta thấy sự thông hiệp mầu nhiệm kết hợp Chúa Giêsu và các môn đệ Ngài. Nối kết Đức Kitô với các người đă chịu phép Rửa Tội trong sự hiệp nhất toàn vẹn: một sự thông hiệp linh động và chuyển ban sinh lực, nhờ đó người Kitô hữu không c̣n thuộc về ḿnh nữa, nhưng trở thành sở hữu của Đức Kitô, như cành nho hợp nhất với cây nho.
 

Sự thông hiệp của người Kitô hữu với Đức Giêsu, lấy sự thông hiệp của Chúa Con với Chúa Cha trong ơn Chúa Thánh Thần làm kiểu mẫu, nguồn gốc và cùng đích: người Kitô hữu hiệp nhất với Chúa Con trong mỗi giây ràng buộc t́nh yêu của Chúa Thánh Thần, cũng được hiệp nhất với Chúa Cha. Chúa Giêsu c̣n tiếp: “Ta là cây nho, chúng con là cành” (Ga 15,5). Người Kitô hữu hiệp thông với Đức Kitô nên họ cũng hiệp thông với nhau. Tất cả đều là cành của Cây Nho duy nhất là Đức Kitô. Trong sự hiệp thông huynh đệ này, Chúa Giêsu phản ảnh lạ lùng việc tham dự nhiệm mầu vào đời sống t́nh yêu thâm sâu của Chúa Cha, Chúa con và Chúa Thánh Thần. Để thực hiện sự thông hiệp này, Chúa Giêsu đă cầu nguyện: “Cho hết thảy được hiệp nhất, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha vậy, để họ cũng được liên hiệp cùng Ta, cho thiên hạ tin rằng Cha đă sai con đến”.
 

Sự thông hiệp này, chính là mầu nhiệm của Giáo Hội như Công Đồng Vaticanô II đă dùng những lời của thánh Cyprianô để nhắc lại: “Giáo Hội phổ quát xuất hiện như một dân tộc được hợp nhất, nhờ sự hợp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (52). Mầu nhiệm Giáo Hội hiệp thông này được nhắc nhở ở mỗi đầu thánh lễ, khi vị chủ tế đón mời chúng ta bằng lời chào của thánh Phaolô Tông Đồ: “Nguyện xin ân sủng Đức Kitô Chúa chúng ta, và t́nh yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa

Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em” (2 Cor 13,13).
 

CÔNG ĐỒNG VÀ GIÁO HỘI HỌC HIỆP THÔNG
 

19. Đây là tư tưởng chính mà Giáo Hội đă đưa ra ánh sáng để tự định nghĩa ḿnh trong Công Đồng Vaticanô II, cũng như Thượng Hội Đồng ngoại lệ năm 1985, đă nhắc lại: “Giáo Hội học về hiệp thông là tư tưởng trung tâm căn bản của các văn kiện Công Đồng. Giáo Hội Hiệp Thông (Koinonia – Communion) dựa trên Thánh Kinh, đă được tôn trọng Giáo Hội thời sơ khởi, và trong Giáo Hội Đông Phương cho tới ngày nay. Công Đồng Vaticanô II đă nỗ lực làm việc, khảo sát để Giáo Hội được hiểu một cách rơ ràng như là một sự hiệp thông, và để khái niệm này được thực thi một cách cụ thể trong đời sống.
 

“Thông hiệp”, tiếng phức tạp này có nghĩa ǵ? Từ nguồn gốc nó có nghĩa là sự hiệp thông với Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô trong Chúa Thánh Thần. Sự hiệp thông này chúng ta nhận được nhờ Lời Chúa và các phép Bí Tích. Phép Rửa Tội là cánh cửa, và cũng là nền tảng của sự hiệp thông trong Giáo Hội. Phép Thánh Thể là nguồn và đỉnh cao của sự sống người Kitô hữu. Sự hiệp thông với Ḿnh Thánh Chúa Kitô là dấu chỉ phát sinh, hay nói cách khác, xây dựng sự hiệp thông mật thiết của mọi tín hữu trong Thân Xác của Chúa Kitô là Giáo Hội.” (53)
 

Công Đồng vừa bế mạc, Đức Phaolô VI đă nói với tín hữu: “Giáo Hội là một sự hiệp thông. Tiếng hiệp thông ở nay có nghĩa ǵ? Ta mời chúng con đọc lại giáo lư nói về việc các thánh thông công, và các thánh thông công mang hai nghĩa: người Kitô hữu được thông công vào sự sống Chúa Kitô và sự lưu thông của chính Đức Ái này trong toàn thể cộng đồng các tín hữu ở trần gian, và bên kia thế giới. Hợp nhất với Đức Kitô và trong Đức Kitô, hợp nhất các Kitô hữu với nhau và trong Giáo Hội” (54).
 

Các h́nh ảnh Thánh Kinh Công Đồng đă dùng để giúp chúng ta suy niệm mầu nhiệm Giáo Hội, đă đưa ra ánh sáng cho chúng ta thấy thực tại Giáo Hội hiệp thông khăng khít giữa các Kitô hữu với Đức Kitô, và hiệp thông các Kitô hữu với nhau. Đó là h́nh ảnh chuồng chiên, đàn chiên, cây nho, ṭa nhà thiêng liêng, và h́nh ảnh thành Thánh (55). Nhưng trên tất cả, h́nh ảnh về nhiệm thể của thánh Phaolô được Công Đồng lư ư nhiều hơn cả, v́ giáo lư của Ngài dạy luôn luôn sống động và hấp dẫn (56). Công Đồng dựa theo lịch sử cứu rỗi cũng tŕnh bày Giáo Hội như là Dân Thiên Chúa: “Thiên Chúa đă không muốn cho con người nhận lănh sự Thánh Hóa và ơn Cứu Độ một cách riêng rẽ, không một giây liên lạc ràng buộc, nhưng Ngài muốn làm cho họ trở thành một dân tộc nhận biết Ngài theo sự thật và phụng sự Ngài trong sự thánh thiện” (57). Ngay từ hàng chữ đầu, Hiến chế “Ánh Sáng Muôn Dân” đă tóm lược tín lư này một cách tuyệt diệu: “Giáo Hội ở trong Chúa Kitô như là Bí Tích, nghĩa là vừa là dấu chỉ, vừa là phương tiện đưa đến sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và hợp nhất của toàn thể nhân loại” (58).
 

Thực tại Giáo Hội Hiệp Thông như thế là phần tất yếu, hay nói đúng hơn, nó là nội dung trung điểm của “Mầu Nhiệm”, nghĩa là ư định Thiên Chúa trong việc cứu rỗi nhân loại. V́ thế sự hiệp thông trong Giáo Hội không chỉ nói về phương diện xă hội hay tâm lư. Giáo Hội Thông Công là dân tộc “mới”, là dân tộc “thời đại Đấng Thiên Sai”, dân tộc “mà vị thủ lănh là Đức Kitô” và sự hiệp thông của nó là phẩm giá và sự tự do của con cái Chúa... Luật của dân này là giới răn mới: yêu thương như chính Chúa Kitô đă yêu thương chúng ta... Cứu cánh của họ là Nước Thiên Chúa... và dân tộc này đă được Chúa Kitô thiết lập như một Công Đồng sống hiệp thông trong Đức Ái và chân lư” (59). Mối giây liên kết các phần tử của Dân Mới này lại với nhau, và trước tiên với Chúa Kitô, không phải là những mối giây “xác thịt” và “máu mủ”, mà là giây tinh thần, nói rơ hơn là các mối giây của Thánh Thần, mà những ai chịu phép Rửa Tội đă nhận lănh (Jl 3,1).
 

Bởi v́ chính Chúa Thánh Thần từ đời đời đă là sợi giây liên kết của Thiên Chúa Ba Ngôi, duy nhất và không phân chia được. Thánh Thần này “khi thời gian đến” (Gal 4,4) đă vĩnh viễn kết hợp máu thịt con người với Con Thiên Chúa, là Thánh Thần qua suốt các thế hệ của đạo Chúa Kitô đă trở nên nguồn suối vô tận đem lại sự hiệp thông trong Giáo Hội.
 

Chú thích: (52) Lumen Gentium 4. (53) Final Report, II, C,1. (54) Paul VI, Wednesday general audience talk, (June 8, 1966): Insegnamenti, IV (1966), 794. (55) Cf. Lumen Gentium, 6. (56) Cf. Ibid., 7 and following. (57) Ibid., 9. (58) Ibid., 1. (59) Ibid., 9.

MỘT SỰ HIỆP THÔNG CÓ CƠ CẤU:
 

KHÁC BIỆT NHƯNG BỔ TÚC
 

20. Sự thông hiệp trong Giáo Hội là một sự thông hiệp “có cơ cấu” giống như một thân thể sống động. Nó bao gồm các thành phần khác biệt và bổ túc nhau theo ơn gọi và địa vị, gồm các thừa tác vụ, các ơn đoàn sủng (charismes), và các trách nhiệm khác nhau. Nhờ có sự khác biệt và bổ túc này, mỗi tín hữu giáo dân có liên hệ với toàn thân và đem lại phần đóng góp cho toàn thân.
 

Thánh Phaolô Tông Đồ đă đặc biệt nhấn mạnh về sự thông hiệp cơ cấu của Nhiệm Thể Đức Kitô. Chúng ta hăy lắng nghe lại một lần nữa giáo huấn súc tích của Người trong bản đúc kết Công Đồng Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân quả quyết: “Đức Giêsu Kitô khi thông ban Thánh Thần cho anh em ḿnh mà Ngài đă triệu tập từ các dân các nước lại, đă liên kết họ cách nhiệm mầu thành thân thể Ngài. Trong thân thể này, sự sống của Đức Kitô tràn ra các nơi để tin... tất cả các chi thể tuy nhiều, nhưng lập thành một thân thể, cũng thế, các tín hữu lập thành một thân thể trong Chúa Kitô” (1 Cor 12,12). Trong việc xây dựng thân thể Chúa Kitô, cần có nhiều chi thể với chức vụ khác nhau. Chỉ một Chúa Thánh Thần ban những ân sủng khác nhau để làm ích cho Giáo Hội theo sự sung măn của Ngài và tùy nhu cầu của các công tác (1 Cor 12, 1-11).

Trong các ân sủng ấy, ơn ban cho các Tông Đồ đứng hàng đầu: “Chính Chúa Thánh Thần đặt dưới quyền các Ngài những người lănh nhận các đoàn sủng (1 Cor 14). Cũng chính Thánh Thần ấy, là nguyên lư hợp nhất trong thân xác nơi đó thần lực của Ngài hoạt động và thể hiện sự liên kết các chi thể, làm phát sinh và khích lệ Đức Ái giữa các tín hữu. V́ thế, nếu một chi thể nào đau đớn, tất cả các chi thể khác đều bị đau đớn, và một chi thể nào được vinh dự, tất cả các chi thể khác cùng chung vui.(60)
 

Luôn luôn chính cũng một Thánh Thần duy nhất là nguyên lư đầy động lực phát sinh sự khác biệt và sự hiệp nhất trong Giáo Hội. Chúng ta hăy đọc lại Hiến Chế Muôn Dân: “Để chúng ta được liên lỉ canh tân trong Người” (Eph 4,23), Đấng đă ban cho chúng ta Thánh Thần của Ngài để hiện hữu nơi đầu cũng như trong thân thể, là sống động hiệp nhất và thúc đẩy toàn thân. Các Thánh Giáo Phụ đă so sánh tác động của Chúa Thánh Thần như công việc của linh hồn là nguyên lư sự sống, hoàn thành trong thân xác” (61). Trong một bản văn khác đặc biệt súc tích và hiếm có để giải thích không những “tính chất cơ cấu” riêng biệt của sự hiệp thông trong Giáo Hội, mà hiệp thông này phải luôn luôn trưởng thành cho đến ngày hiệp thông trọn vẹn. Công Đồng viết: “Chúa Thánh Thần ngự trong Giáo Hội và trong tâm hồn các tín hữu như ngự trong đền Thánh” (1Cor 3,16; 6,19). Trong họ, Ngài cầu nguyện và chứng nhận họ là dưỡng tử của Thiên Chúa (Gal 4,6; Rom 8,15-16). Ngài thông đạt cho Giáo Hội toàn bộ chân lư (Jn 16,13). Ngài thống nhất Giáo Hội trong sự hiệp thông và phục vụ. Ngài xây dựng và dẫn dắt Giáo Hội bằng nhiều ân huệ khác nhau theo phẩm trật và ơn đoàn sủng, tô điểm Giáo Hội bằng hoa trái ân sủng của Ngài (Eph 4,11-12; 1Cor 12,4; Gal 5,22). Nhờ sức mạnh Phúc Âm, Ngài làm cho Giáo Hội được phát triển, luôn luôn đổi mới, và hướng dẫn Giáo Hội ngày kết hợp với vị Phu Quân của ḿnh. Cả Chúa Thánh Thần và Hiền Thê cùng mời gọi Chúa Giêsu rằng: “Xin hăy đến” (62).
 

Sự hiệp thông trong Giáo Hội là một ân huệ, một đại ân huệ của Chúa Thánh Thần. Các tín hữu được mời gọi nhận lănh ơn này với ḷng biết ơn, và đồng thời sống ơn này bằng tinh thần trách nhiệm. Việc này thực hiện một cách cụ thể khi họ tham gia vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội, và để phục vụ Giáo Hội các tín hữu giáo dân thi hành các thừa tác vụ, và các đoàn sủng của ḿnh.
 

Người tín hữu giáo dân “không được quyền tự cô lập ḿnh với cộng đoàn, nhưng họ phải luôn sống trong sự chia sẻ với anh em khác trong t́nh huynh đệ sâu đậm, trong niềm vui vẻ b́nh đẳng, và hợp tác với nhau để kho tàng gia tài mênh mông đă được nhận lănh được sinh hoa kết quả. Thánh Thần Thiên Chúa ban cho họ cũng như ban cho kẻ khác nhiều ơn đoàn sủng. Ngài gọi họ lănh nhận nhiều thừa tác vụ và nhiều trọng trách khác nhau. Ngài nhắc lại cho họ cũng như cho kẻ khác biết rằng trong mối tương quan với nhau điều làm cho họ nổi bật, không phải là thăng tiến chức phận, mà chính họ là được trao quyền năng đặc biệt và bổ túc để phục vụ... V́ thế, các ơn đoàn sủng, các thừa tác vụ, các trọng trách, các dịch vụ của người tín hữu giáo dân nếu có là có trong sự hiệp thông. Đó là những kho tàng bổ túc lẫn cho nhau, dùng để tạo lợi ích cho mọi người dưới sự hướng dẫn khôn ngoan của các vị Chủ Chăn” (63).

THỪA TÁC VỤ VÀ ĐOÀN SỦNG LÀ ƠN CỦA CHÚA THÁNH THẦN BAN CHO GIÁO HỘI
 

21. Công Đồng Vaticanô II tŕnh bày các thừa tác vụ và các ơn đoàn sủng như là ơn Chúa Thánh Thần ban để xây dựng Thân Thể Chúa Kitô, và để truyền giáo hầu để cứu rỗi thế giới (64). V́ Giáo Hội được hướng dẫn điều hành do chúa Thánh Thần là Đấng ban phát mọi sự khác nhau theo phẩm trật và có tính cách đoàn sủng, Ngài ban cho hết mọi người đă chịu phép Rửa Tội, và kêu gọi họ phải hoạt động và đồng chịu trách nhiệm mỗi người theo cách thế của ḿnh.
Giờ nay chúng ta hăy xem xét các thừa tác vụ và các ơn đoàn sủng đối với các tín hữu giáo dân, và việc tham gia của họ vào đời sống Giáo Hội Hiệp Thông.
 

THỪA TÁC VỤ, NHIỆM VỤ VÀ CHỨC VỤ
 

Các thừa tác vụ hiện tại đang hoạt động trong Giáo Hội, mặc dầu có khác biệt nhau trong cách thế, nhưng tất cả là đều tham gia vào thừa tác vụ của Chúa Giêsu Kitô là vị Chủ Chăn đă liều mạng sống v́ đàn chiên (Ga 10,11), là người đầy tớ hèn mọn và hoàn toàn hy sinh để cứu rỗi mọi người (Mc 10,45). Thánh Phaolô nói rất rơ ràng về sự thiết lập các thừa tác vụ trong Giáo Hội thời các thánh Tông Đồ. Trong thư thứ nhất gởi các tín hữu thành Côrintô, Ngài viết: “Thiên Chúa đặt để trong Giáo Hội, trước tiên có các Tông Đồ, thứ đến các vị rao giảng, rồi đến những kẻ nhận trách nhiệm dạy dỗ...” (Cor 12,28). Trong thư gởi cho giáo hữu thành Êphêsô, Ngài viết: “Mỗi người trong chúng ta đă nhận ơn nghĩa Thánh như Chúa Kitô đă phân chia... và các ơn Ngài ban cho con người, trước tiên là các Tông Đồ, đến các vị rao giảng, các nhà thừa sai Phúc Âm, các Chủ Chăn và những người lo việc dạy dỗ. Như thế dân thánh Chúa được tổ chức để các thừa tác vụ được hoàn thành và để Thân Thể của Đức Kitô được xây đựng. Cuối cùng, tất cả chúng ta cùng nhau hiệp nhất trong Đức Tin và trong sự hiểu biết chân chính Con Thiên Chúa, để tiến tới t́nh trạng trưởng thành, và sung măn trọn vẹn của tầm vóc con người Đức Kitô” (Eph 4,7,11-13; Rom 12,4-8). Các bản văn này cũng như các bản văn khác của Tân Ước cho chúng ta thấy các thừa tác vụ, cũng như các ân huệ và các công tác trong Hội Thánh, có rất nhiều và khác nhau.

CÁC THỪA TÁC VỤ PHÁT SINH TỪ PHÉP TRUYỀN CHỨC THÁNH
 

22. Trong Giáo Hội, chúng ta thấy trước tiên các thừa tác vụ được truyền phong, nghĩa là phát nguồn từ phép Truyền Chức Thánh. Chúa Giêsu đă chọn và đặt các Tông Đồ “như là hạt giống nay sinh dân Israel mới và đồng thời cũng là nguồn gốc của phẩm trật trong Giáo Hội” (65), và truyền cho họ phải huấn luyện và đào tạo những môn đệ trong khắp các dân tộc (Mt 28,19), và điều khiển hàng tư tế. Sứ vụ của các thánh Tông Đồ mà Chúa Giêsu tiếp tục trao phó cho các vị Chủ Chăn dân Ngài, là một chức vụ mà Thánh Kinh gọi là “diakonia”, nghĩa là phục vụ hay mục vụ. Các vị này lănh nhận nơi Chúa Kitô phục sinh, ơn đoàn sủng của Chúa Thánh Thần được truyền thụ không ngừng từ đời các thánh Tông Đồ, nhờ bí tích Truyền Chức Thánh. Từ Đức Kitô, họ lănh nhận trách nhiệm và quyền năng thiêng liêng để phục vụ Giáo Hội, họ hành động nhân danh Đức Kitô là đầu (66), và để hợp nhất Giáo Hội lại trong Chúa Thánh Thần nhờ Phúc Âm và các phép Bí Tích.
Các thừa tác vụ được truyền phong là một ân sủng được ban cho toàn thể Giáo Hội, chứ không chỉ là ân sủng riêng cho cá nhân người lănh nhận. Các thừa tác vụ này là sự thực thi và biểu lộ được tham dự vào chức linh mục của Chúa Kitô. Sự tham dự này khác biệt ngay trong bản tính, chứ không chỉ trong mức độ tham dự đă được ban cho mọi tín hữu nhờ phép Rửa Tội và Thêm Sức. Đàng khác, chức linh mục thừa tác vụ, như Công Đồng Vaticanô II đă gọi hướng về chức tư tế vương giả cộng đồng của mọi tín hữu, và cùng đích cốt yếu của nó nằm trong chức tư tế này (
67).
V́ thế, để bảo đảm và làm tăng trưởng sự hiệp thông trong Giáo Hội, đặc biệt những ǵ có liên quan đến các thừa tác vụ khác nhau và bổ túc cho nhau, các vị chủ chăn phải xác tín chín chắn rằng, chức linh mục của ḿnh là để phục vụ toàn dân hiên Chúa (Heb 5,1). Các tín hữu giáo dân cũng phải nh́n nhận rằng, chức linh mục thừa tác vụ tuyệt đối can thiết cho cuộc sống của chính ḿnh trong Giáo Hội, và cho ḿnh được tham dự vào sứ mệnh của Giáo Hội (
68).
Chú thích: (60) Cf. Lumen Gentium,7; (61) Ibid.; (62) Ibid.; (63) John Paul II, Homily at synod closing Mass; (64) Cf. Lumen Gentium, 4; (65) Cf. Second Vatican Council, Decree on the Churchs Missionary Activity Ad Gentes, 5; (66) Second Vatican Council, Decree on the Ministry and Life of Priest Presbyterorum Ordinis, 2; cf. Lumen Gentium, 10; (67) Cf. Lumen Gentium, 10; (68) Cf. John Paul II, Holy Thursday letter to priests (April 9, 1079), 3-4: Insegnamenti, II,1 (1979), 844-847.

THỪA TÁC VỤ, NHIỆM VỤ VÀ CHỨC VỤ CỦA GIÁO DÂN
 

23. Sứ mệnh cứu rỗi của Giáo Hội giữa thế giới được thực hiện không chỉ nhờ các vị thừa hành đă lănh nhận bí tích Truyền Chức Thánh, nhưng cũng nhờ các tín hữu giáo dân; v́ họ đă được chịu phép Rửa Tội và được kêu gọi đặc biệt, để tham dự theo mức độ của mỗi người vào chức vụ tư tế, rao giảng và vương giả của Đức Kitô.
Bởi thế, các vị chủ chăn phải thừa nhận và cổ vơ các thừa tác vụ, nhiệm vụ và chức vụ của các tín hữu giáo dân. Những nhiệm vụ và tác vụ này có nền tảng bí tích trong phép Rửa Tội, phép Thêm Sức, và hơn nữa trong phép Hôn Phối đối với nhiều người trong giáo dân.`
 

Hơn nữa, khi nhu cầu hoặc v́ lợi ích của Giáo Hội đ̣i hỏi, các chủ chăn có thể theo quy chế dự định trong bộ luật chung, giao phó cho t́n hữu giáo dân một số nhiệm vụ hay chức vụ. Những nhiệm vụ hay chức vụ này vẫn tùy thuộc với thừa tác vụ chủ chăn của các Ngài, nhưng không cần chức Thánh mới thi hành được. Giáo luật xác định: “Nơi nào nhu cầu Giáo Hội đ̣i hỏi và thiếu thừa tác viên, th́ các giáo dân dù không có chức tác vụ đọc sách và giúp lễ, cũng có thể thay thế họ làm một số việc như đọc Lời Chúa, chủ tọa các buổi cầu nguyện, rửa tội và cho rước lễ theo các quy tắc luật định” (69).
 

Tuy nhiên, việc thi hành chức vụ này không làm cho người tín hữu giáo dân trở thành vị chủ chăn. Thật ra điều tạo nên một thừa tác vụ, không phải là do tác động nhưng là do bí tích Truyền Chức. Chỉ có phép Truyền Chức Thánh mới ban cho vị thừa tác viên thụ phong sự tham gia đặc biệt vào chức tư tế của Đức Kitô (70). Chức vụ thi hành với tư cách là người thay thế được xem là hợp pháp, khi được các chủ chăn ủy nhiệm một cách chính thức và trực tiếp. Vậy khi thi hành chức vụ này, người thay thế phải lệ thuộc vào quyền lănh đạo của Giáo Quyền (71).
 

Thượng Hội Đồng Giám Mục vừa qua đă tŕnh bày cho thấy một cái nh́n bao quát t́nh trạng Giáo Hội về các thừa tác vụ, nhiệm vụ và chức vụ của những người đă chịu phép Rửa Tội. Các Nghị Phụ đă hết ḷng thán phục những sự cộng tác tông đồ của các tín hữu giáo dân nam nữ để làm cho Giáo Hội được sống và tăng trưởng bằng các ơn đoàn sủng, bằng các hoạt động nâng đỡ việc truyền giáo, việc thánh hóa và sống đạo. Đồng thời các vị Nghị Phụ cũng rất quư mến sự tận tâm sẵn có của họ để phục vụ các cộng đồng trong Giáo Hội, và việc chuẩn bị sẵn sàng của họ để thay thế các vị chủ chăn trong những trường hợp khẩn cấp hoặc trong các nhu cầu nhất thời (72).
Sau khi Công Đồng cổ vơ sự canh tân Phụng Vụ, các tín hữu giáo dân cũng ư thức rơ ràng về nhiệm vụ của họ trong khi chuẩn bị tham dự các nghi thức Phụng Vụ; v́ thế họ đă tỏ ra rất quan tâm: V́ việc cử hành Phụng Vụ là một việc Thánh của cộng đồng dân Chúa chứ không riêng ǵ của hàng giáo sĩ. Lẽ dĩ nhiên việc nào không phải dành riêng cho các vị có chức Thánh, th́ phải do các tín hữu giáo dân đảm trách (
73). Một khi chấp nhận sự tham gia thật sự của người tín hữu giáo dân trong việc phụng sự, th́ đương nhiên cũng chấp nhận sự tham gia của họ vào việc rao truyền Lời Chúa và trách nhiệm mục vụ (74).
 

Trong buổi Đại Hội Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới, ngoài những phán đoán tích cực ủng hộ, cũng không thiếu những lời phê b́nh việc dùng từ ngữ “thừa tác vụ”, việc lẫn lộn chức linh mục cộng đồng với chức linh mục thừa hành, việc bỏ sót không áp dụng luật lệ và định chế của Giáo Hội, việc tự tiện giải thích khái niệm về việc thay thế, xu hướng giáo sĩ hóa tín hữu giáo dân, và nguy cơ tạo nên một cơ cấu phục vụ trong Giáo Hội song song với cơ cấu đặt nền tảng trên bí tích Truyền Chức Thánh.
Để ngăn ngừa các hiểm họa ấy, các Nghị Phụ lưu tâm đến việc cần thiết phải giải thích rơ ràng bằng cách quy định một từ ngữ chính xác, diễn tả hai điểm quan trọng này (
75), sự hiệp nhất trong sứ vụ của Giáo Hội mà mọi người đă chịu phép Rửa Tội phải tham gia, và sự khác biệt bản chất mà thừa tác vụ của các vị chủ chăn được xây dựng trên nền tảng của phép Truyền Chức Thánh, với các thừa tác vụ, nhiệm vụ và chức vụ khác được xây dựng trên nền tảng của các phép Rửa Tội và Thêm Sức.
 

V́ thế, trước khi thừa nhận hay trao ban cho các tín hữu giáo dân các thừa tác vụ, nhiệm vụ hay chức vụ; các chủ chăn phải thận trọng cho họ hiểu là các nhiệm vụ này phát sinh từ phép Rửa Tội. Thứ đến các vị chủ chăn không nên dễ dăi viện cớ trường hợp khẩn trương hoặc thay thế khẩn cấp, khi thực sự không có hoặc lúc có thể sắp đặt một chương tŕnh mục vụ hữu hiệu hơn.
 

Các nhiệm vụ và chức vụ người tín hữu giáo dân có thể thực thi hợp pháp trong Phụng vụ, trong việc truyền bá Đức Tin và trong cơ cấu mục vụ của Giáo Hội, phải được thực thi phù hợp với ơn gọi đặc biệt của họ, một ơn gọi khác biệt với các thừa tác vụ Thánh. Chính bức Tông huấn “Truyền bá Phúc Âm” của Đức Phaolô VI đă đề cập đến vấn đề này. Bức Tông Huấn đă đem lại những kết quả rất lớn lao và tốt đẹp v́ đă cảnh tỉnh được người tín hữu giáo dân để họ tham gia bằng nhiều cách vào đời sống, và vào sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội. Bức Tông Huấn đă nhắc nhở rằng: “Môi trường riêng biệt của các hoạt động tông đồ của người giáo dân là thế giới mênh mông phức tạp của đời sống chính trị, của các thực tại xă hội và kinh tế, của đời sống văn hóa, khoa học và nghệ thuật, của đời sống quốc tế, của các phương tiện truyền thông xă hội. Nó cũng bao gồm các thực tại khác đặc biệt cho việc mở rộng cho việc rao truyền Phúc Âm như t́nh yêu, gia đ́nh, giáo dục trẻ em và thanh thiếu niên, lao động chức nghiệp và đau khổ. Càng có nhiều giáo dân thấm nhuần tinh thần Phúc Âm, ư thức trách nhiệm đối với các thực tại ấy và dấn thân một cách tích cực, đủ khả năng trong việc khai triển các thực tại ấy, và đồng thời ư thức được bổn phận buộc ḿnh phải phát huy tiềm năng Công Giáo của ḿnh từ lâu bị chôn vùi và bóp nghẹt, chúng ta càng thấy tầm mức siêu việt và hiệu năng trần thế của nó, để được xử dụng trong công cuộc xây dựng nước Thiên Chúa, nghĩa là nước Cứu Rỗi trong Đức Giêsu Kitô” (76).
 

Trong Thượng Hội Đồng, các Nghị Phụ cũng đă khảo sát về chức Đọc Sách và chức Giúp Lễ. Ngày xưa trong Giáo Hội Latinh, hai chức này chỉ là hai giai đoạn thiêng liêng dọn đường đưa đến các chức Thánh. Nhưng Đức Phaolô VI trong Tự Sắc Ministera quaedam (15.8.1972) đă quyết định có thể truyền riêng hai chức này cho các nam tín hữu giáo dân (77). Các Nghị Phụ đă đề nghị phải nghiên cứu lại Tự Sắc này đối chiếu với việc thi hành của các Giáo Hội địa phương, và nhất là quy định rơ các tiêu chuẩn để chọn các ứng viên vào các chức vụ ấy (78).
 

Để thực hiện điều này, một ủy ban đặc biệt đă được thành lập. Ủy ban này không những có mục đích đáp lại ước nguyện các Nghị Phụ, và nhất là để nghiên cứu một cách sâu rộng về các vấn đề thần học, phụng vụ, pháp lư và mục vụ được nêu ra, v́ hiện nay quá nhiều thừa tác vụ được trao phó cho giáo dân.
Trong thời gian chờ đợi công việc nghiên cứu của ủy ban kết thúc để việc thi hành các thừa tác vụ trong Giáo Hội trao cho người tín hữu giáo dân cho có trật tự và hữu ích, các Giáo Hội địa phương phải tôn trọng những nguyên tắc thần học đă dẫn giải ở trên, nhất là sự khác biệt căn bản giữa chức linh mục thừa hành cà chức linh mục cộng đồng. Và do đó, sự khác biệt giữa các thừa tác vụ phát sinh từ phép Truyền chức Thánh và các thừa tác vụ phát sinh từ phép Rửa Tội và phép Thêm sức.
Chú thích: (69) Code of Canon Law, Canon 230.3; (70)

ĐOÀN SỦNG
 

24. Chúa Thánh Thần trong lúc trao phó cho Giáo Hội hiệp thông các thừa tác vụ, th́ đồng thời cũng làm cho Giáo Hội được sung túc với nhiều ơn huệ và ơn đặc sủng khác gọi là đoàn sủng. Các ơn này có nhiều h́nh thức khác nhau v́ Chúa Thánh Thần, Đấng ban phát những ơn này là Đấng tự do tuyệt đối, và v́ lịch sử Giáo Hội có nhiều nhu cầu khác nhau. Tân Ước đă mô tả và sắp hạng các ơn này, như chúng ta thấy có rất nhiều ơn khác nhau: “V́ Thánh Linh hiển hiện trong mỗi người hầu mang lại ích lợi. Như người này nhờ Thánh Linh được ơn lợi khẩu, người khác cũng nhờ Thánh Linh được thông thái; bởi một Thánh Linh đó người này được tín ngưỡng và cũng do Thánh Linh ấy người kia được trị bệnh; lại người được làm phép lạ, kẻ nói tiên tri, người phân biệt các tâm hồn, kẻ nói được nhiều ngoại ngữ, người khác có thể thông dịch các thứ tiếng” (Cor 12, 7-10).
 

Các đoàn sủng cao siêu hay giản dị, tất cả đều là ân sủng Chúa Thánh Thần. Trực tiếp hay gián tiếp các ơn này đều đem lại lợi ích cho sự sống Giáo Hội, v́ Chúa đă sắp xếp cho các ơn này được xử dụng để xây dựng Giáo Hội, để bổ ích cho con người, và để đáp ứng lại các nhu cầu của thế giới.
 

Chính trong thời đại chúng ta, chúng ta cũng thấy đó đây nẩy nở những ơn đoàn sủng nơi người tín hữu giáo dân cả nam lẫn nữ. Các ơn này được ban cho một người nhất định, nhưng các người khác cũng được thông phần và rồi được bảo tồn qua thời gian như một gia sản sống động, quư giá để tạo nên một liên hệ thiêng liêng đặc biệt giữa nhiều người. Khi nói đến việc tông đồ giáo dân, Công Đồng Vatican II đă viết: “Để thể hiện việc tông đồ này, Chúa Thánh Thần thánh hóa dân Chúa bằng bí tích và tác vụ. Ngài cũng ban cho tín hữu ơn đặc biệt (1Cor 12,7) để mỗi người tùy theo ơn đă nhận mà giúp đỡ nhau, và chính họ trở nên như những người quản lư trung tín các ơn Thiên Chúa” (1Pt 4,10) hầu xây dung toàn thân trong Đức Ái” (79).
 

Các ơn Chúa Thánh Thần được phát sinh để tạo thêm sinh lực dồi dào, v́ thế nó đ̣i hỏi những ai lănh nhận phải thi hành, để cho Giáo Hội được lớn lên và phát triển như Công Đồng đă dạy (80).
 

Không phải chỉ những ai lănh nhận các đoàn sủng, mà tất cả các chi thể của Giáo hội đều phải tỏ ḷng biết ơn. V́ các ơn ấy là một kho tàng kỳ diệu. Ơn sủng Chúa ban cho Toàn Thân Chúa Kitô để được thánh hóa và hoạt động tông đồ, với điều kiện là nó thật bởi Chúa Thánh Thần mà đến, và được thực thi hoàn toàn do Chúa Thánh thần thúc đẩy. V́ thế, chúng ta phải luôn thận trọng phân biệt các đoàn sủng. Thực ra, như các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đă tuyên bố: “Hoạt động của Chúa Thánh Thần, là Đấng thổi hơi nơi nào Người muốn, thực không phải dễ dàng để phân biệt và nhận lănh. Chúng ta biết Thiên Chúa tác động trong tất cả các tín hữu và chúng ta cũng ư thức được các ơn lành do các đoàn sủng, ban cho mỗi người hoặc cho cả cộng đồng Kitô hữu. Nhưng chúng ta cũng cần ư thức đến sức mạnh của tội lỗi và những cố gắng của nó, nhằm gieo rắc rối loạn trong đời sống của các tín hữu và của các cộng đồng” (81).
 

V́ thế mọi đoàn sủng phải liên hệ và tùy thuộc vào các chủ chăn của Giáo Hội. Công Đồng đă công bố rơ ràng: “Những vị hữu trách của Giáo Hội có thẩm quyền phán quyết về tính cách chân thực và việc xử dụng hợp lư các ơn ấy. Các ngài có nhiệm vụ thử thách, không phải để dập tắt ơn Chúa Thánh Thần, nhưng để trắc nghiệm và giữ lại những ǵ là chính đáng” (82) để tất cả những đoàn sủng, mặc dầu khác biệt nhưng bổ túc cho nhau, đều quy về lợi ích chung (83).
 

NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN THAM GIA VÀO ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI
 

25. Người tín hữu giáo dân tham gia vào sự sống của Giáo Hội, không chỉ bằng cách thực thi các thừa tác vụ hay các đoàn sủng của ḿnh, mà c̣n bằng nhiều cách khác nữa.
 

Hành động này phải được thực hiện trước tiên và can thiết trong đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội địa phương là các giáo phận, là nơi có “sự hiện diện và tác động của Giáo Hội Chúa Kitô duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền” (84).
 

Giáo Hội địa phương và Giáo Hội hoàn vũ
 

Để tham dự một cách chính đáng vào đời sống Giáo Hội, các tín hữu giáo dân cần có một cái nh́n sáng suốt và chính xác về Giáo Hội địa phương đối với Giáo Hội hoàn vũ. Giáo Hội địa phương không phải là một mảnh của Giáo Hội hoàn vũ, và Giáo Hội hoàn vũ không phải chỉ là tổng số các Giáo Hội địa phương hợp lại. Nhưng các Giáo Hội địa phương kết hợp với nhau bằng mối dây linh động, căn bản và trường tồn, v́ Giáo Hội hoàn vũ hiện hữu và biểu lộ trong các Giáo Hội địa phương. V́ thề, Công Đồng quả quyết là các Giáo Hội địa phương “được h́nh thành theo h́nh ảnh của Giáo Hội hoàn vũ; chính trong các Giáo Hội địa phương và từ Giáo Hội này mà một Giáo Hội Công Giáo duy nhất hiện hữu” (85).
 

Công Đồng c̣n khích lệ các tín hữu giáo dân sống linh động trong Giáo Hội địa phương, đồng thời ngày càng hướng đến Giáo Hội hoàn vũ công giáo. Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân tuyên bố: “Giáo Dân phải luôn luôn phát triển ư thức về giáo phận và giáo xứ, v́ giáo xứ là một tế bào của giáo phận. Họ phải luôn mau mắn đáp lại tiếng gọi của chủ chăn và tùy sức tham gia vào những sáng kiến chung của giáo phận. Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu nơi thành thị cũng như ở thôn quê, họ không chỉ giới hạn sự cộng tác của ḿnh trong phạm vi giáo xứ hay giáo phận, nhưng cố gắng mở rộng phạm vi tới các lĩnh vực liên xứ, liên giáo phận, quốc gia và quốc tế. Hơn nữa, việc di dân mỗi ngày một gia tăng, những mối tương quan lại càng mở rộng và việc giao thông thêm dễ dàng, đă không để một thành phần xă hội nào sống đóng kín cho riêng ḿnh. V́ thế người giáo dân phải quan tâm đến những nhu cầu của Dân Chúa rải rác khắp trên thế giới” (86).
 

Thượng Hội Đồng Giám Mục 1987 theo các ư kiến trên đă yêu cầu lập nên các Hội Đồng Mục Vụ Giáo Phận để phục vụ khi cần. Thực ra, đây là một h́nh thức chính để hợp tác, đối thoại và đồng thời kiểm thảo trên b́nh diện giáo phận. Sự tham gia của các tín hữu vào các Hội Đồng này mở rộng môi trường thăm ḍ ư kiến và như thế nguyên tắc hợp tác, trong một vài trường hợp cần hợp tác để quyết định, sẽ được áp dụng một cách rộng răi và chắc chắn hơn (87).
 

Việc tham gia của người tín hữu giáo dân vào các đại hội đồng giáo phận hay vào các hội đồng địa phương như hội đồng tỉnh đă được Giáo Luật dự định (88). Việc này làm cho sự thông hiệp được gia tăng và giúp cho sứ mệnh thuộc Giáo Hội của các Giáo Hội địa phương vừa trong ranh giới giáo phận cũng như đối với các giáo hội địa phương khác của giáo tỉnh hay của Hội Đồng Giám Mục.
 

Các Hội Đồng Giám Mục cũng được mời gọi nghiên cứu phương thế thực tiễn nhất để phát triển, trên b́nh diện quốc gia hoặc b́nh diện vùng, việc thăm ḍ ư kiến và việc hợp tác của các tín hữu giáo dân nam, nữ để mọi người ư thức được các vấn đề chung và để biểu lộ sự hiệp thông Giáo Hội của mọi hạng người (89).
Giáo xứ
 

GIÁO XỨ

 

26. Việc hiệp thông của Giáo Hội mặc dầu có tầm vóc bao quát hoàn vũ, nhưng nó được diễn tả một cách rơ ràng và gần gũi nhất ở trong Giáo xứ. Nói một cách khác, chính là Giáo Hội sống giữa con cái nam nữ của ḿnh (90).
 

Tất cả chúng ta phải dùng Đức Tin để khám phá bộ mặt thật của giáo xứ, nghĩa là “mầu nhiệm” của Giáo Hội hiện diện và tác động trong Giáo xứ. Mặc dù đôi lúc Giáo xứ không có nhiều người cũng không đầy đủ phương tiện, có khi Giáo xứ lại tản mác trên những địa hạt rộng lớn, hay lẩn khuất giữa những khu phố tân thời đông đúc và lộn xộn. Nhưng Giáo xứ không phải là một cơ cấu, một địa hạt hay một ngôi nhà, đó là “một gia đ́nh của Chúa, một cộng đoàn huynh đệ chỉ có một linh hồn” (91), là “mái gia đ́nh, đầy t́nh huynh đệ và mở rộng đón tiếp mọi người” (92), là “cộng đồng các tín hữu” (93). Tóm lại, Giáo xứ được đặt nền tảng trên một thực tại thần học, v́ đó là một cộng đồng Thánh Thể (94). Nghĩa là một cộng đồng có tư cách cử hành Bí Tích Thánh Thể, nguồn gốc cấu tạo nên cộng đồng và đem lại cho cộng đồng sức sống và giây liên kết bí tích thông hiệp với toàn thể Giáo Hội. Nói rằng cộng đồng có tư cách cử hành Bí Tích Thánh Thể là v́ Giáo xứ là một cộng đồng Đức Tin và là một cộng đồng có cơ cấu, nghĩa là được tạo nên bởi các vị thừa hành có chức Thánh và các Kitô hữu khác dưới quyền trách nhiệm của một cha sở vừa đại diện cho Đức Giám Mục Giáo phận (95), vừa là mối giây của hàng Giáo phẩm liên kết Giáo xứ với toàn thể Giáo Hội địa phương.
 

Công việc của Giáo Hội trong thời đại chúng ta thật mênh mông, một Giáo xứ một ḿnh không thể cáng đáng nổi. V́ thế, Giáo Luật đă dự liệu những h́nh thức hợp tác giữa các Giáo xứ trong hạt (96) và yêu cầu Giám Mục Giáo phận phải lưu tâm đến tất cả mọi thành phần tín hữu, ngay cả những người không ở dưới quyền cai quản mục vụ của các Ngài (97). Cần phải tạo nên những nơi gặp gỡ, điều kiện để Giáo Hội có thể hiện diện và hoạt động hầu đem lại ân sủng và lời Phúc Âm vào trong những môi trường sống phức tạp của con người hôm nay. Một cách tương tự có nhiều cách thế chiếu rọi ảnh hưởng thiêng liêng hoặc làm tông đồ trong phạm vi văn hóa, xă hội, giáo dục, chức nghiệp v.v.. không thể lấy Giáo xứ làm trung tâm hoặc khởi điểm. Nhưng Giáo xứ hôm nay đang sống một giai đoạn mới đầy hứa hẹn. Đức Phaolô VI, khi mới lên ngôi Giáo Hoàng đă tuyên bố với hàng giáo sĩ Rôma: “Ta tin tin là cơ cấu cổ kính của giáo xứ có một sứ mệnh khẩn thiết rất hợp thời; chính Giáo xứ là cộng đồng tiên khởi của Dân Chúa, chính Giáo xứ phải khai trương đời sống phụng vụ và tập hợp Dân Chúa trong việc cử hành phụng vụ; Giáo xứ có bổn phận phải bảo tồn và làm tươi trẻ đức tin của con người thời đại; Giáo xứ c̣n là trường dạy dỗ giáo lư Cứu Rỗi của Đức Kitô; nơi tích cực thực thi các công tác bác ái huynh đệ” (98).
 

Các Nghị Phụ đă để tâm nghiên cứu thực trạng hiện tại của nhiều Giáo xứ và đă yêu cầu các giáo xứ này phải canh tân rộng răi: “Nhiều Giáo xứ ở thành thị cũng như tại các Giáo Xứ truyền giáo, đă không thể sinh hoạt một cách kết quả v́ thiếu phương tiện vật chất hay thiếu các vị thừa hành có chức Thánh, hoặc v́ điều kiện sinh sống của một số giáo dân (chẳng hạn những người phải lưu đầy hay di dân). Để cho các Giáo xứ này trở thành những cộng đồng thật sự giáo quyền địa phương cần:
 

a) Giúp đỡ để thích nghi cơ cấu Giáo xứ một cách uyển chuyển như Giáo luật cho phép, nhất là để cho giáo dân tham gia vào trọng trách mục vụ.
 

b) Giúp đỡ các cộng đồng cơ bản cũng gọi là những cộng đồng sống, trong đó người tín hữu có thể truyền thông cho nhau Lời Chúa cũng như yêu thương, giúp đỡ nhau.

Các cộng đồng này diễn tả trung thực sự hiệp thông trong Giáo Hội và những trung tâm truyền bá Phúc Âm trong sự hiệp thông với các vị chủ chăn” (99). Để canh tân Giáo xứ và để các Giáo xứ sinh hoạt có kết quả, phải tạo nên những h́nh thức hợp tác, ngay cả trong phạm vi thể chế giữa các Giáo xứ trong một địa hạt.

 

HỌAT ĐỘNG TÔNG ĐỒ TRONG GIÁO XỨ

 

27. Giờ đây chúng ta hăy nh́n rơ sự hiệp thông và sự tham dự của các tín hữu giáo dân nam cũng như nữ, một lời nói rất xác thực đầy ư nghĩa và đầy khích lệ của Công Đồng: “Trong các cộng đồng của Giáo Hội, hoạt động của họ quan trọng đến nỗi không có, th́ công việc tông đồ của các vị chủ chăn lắm lúc không đạt được kết quả mỹ măn”(100).
 

Đây là lời xác nhận căn bản phải được hiểu theo ư nghĩa của “khoa giáo hội học hiệp thông”. Các thừa tác vụ cũng như các đoàn sủng, dù khác biệt nhưng bổ túc cho nhau, nên tất cả đều cần thiết cho sự trưởng thành của Giáo Hội.
 

Các tín hữu giáo dân mỗi ngày phải xác tín hơn ư nghĩa dấn thân tông đồ của ḿnh trong giáo xứ. Chính Công Đồng đă có ư nhấn mạnh điều này: “Giáo xứ là một h́nh thức tông đồ cộng đồng kiểu mẫu, v́ đó là nơi quy tụ đủ mọi hạng người thành một cộng đoàn và đưa họ vào tinh thần đại đồng của Giáo Hội. Giáo dân nên tập thói quen cộng tác chặt chẽ với các linh mục của ḿnh để hoạt động trong giáo xứ. Họ cũng nên có thói quen tŕnh bày với cộng đồng Giáo Hội những vấn đề riêng của ḿnh hay của cả thế giới, hoặc đến những vấn đề liên quan tới phần rỗi mọi người, để cùng nhau góp ư kiến nghiên cứu và giải quyết. Họ cũng phải tùy sức mà cố gắng đóng góp vào mọi công cuộc tông đồ và truyền giáo của gia đ́nh Giáo Hội địa phương ḿnh” (101).
 

Công Đồng nói đến việc “cùng nhau góp ư kiến” để cứu xét và giải quyết các vấn đề mục vụ, được các Nghị Phụ nghiên cứu và giải thích rộng răi theo một cơ cấu tương xứng gọi là Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ (102).
 

Trong hiện t́nh, các tín hữu giáo dân có thể và phải nỗ lực làm sao cho việc hiệp thông Giáo Hội được nẩy nở trong ḷng Giáo xứ có một nghị lực truyền giáo cho những người chưa tin, và cho những ai đă tin mà lại bê tha trong đời sống đạo của ḿnh.
 

Nếu Giáo xứ là Giáo Hội ở trong một phạm vi địa dư, th́ Giáo Hội sống và sinh hoạt trong ḷng xă hội loài người và liên đới thâm sâu với các ước vọng và thảm kịch của nó. Nhiều khi trong nhiều môi trường sống, t́nh cảm xă hội bị giao động bởi vũ lực và làm cho con người mất hết phẩm giá. Con người bị lạc lơng mất hết phương hướng, nhưng trong tâm hồn họ vẫn nuôi ước vọng được cảm nghiệm và tài bồi mối tương giao đầy t́nh huynh đệ, và đầy t́nh người. Ước vọng này, Giáo xứ có thể làm thỏa măn cho họ, nếu các tín hữu giáo dân hăng hái tham gia để họ đạo trung thành ơn gọi và sứ mệnh nguyên thủy của ḿnh, đó là trở thành “nơi” hiệp thông của những kẻ có ḷng tin và đồng thời trở nên “dấu chỉ” và là “phương thế” của ơn gọi mọi người sống hiệp thông. Tóm lại, Giáo xứ là căn nhà mở rộng đón tiếp mọi người và phục vụ mọi người, hay như Đức Gioan XXIII thường nói là “giếng nước của thôn xóm” để mọi người đến giải khát.
 

H̀NH THỨC THAM DỰ CỦA NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN VÀO ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI
 

28. Các tín hữu giáo dân hợp với các Linh mục, với tu sĩ nam nữ, làm thành Dân Thiên Chúa duy nhất, một Thân Thể của Đức Kitô.
Là “phần thân thể” của Giáo Hội, nhưng mỗi Kitô hữu vẫn là “một hữu thể cá biệt không thay thế được”. Ngược lại, điều này cho chúng ta thấy ư nghĩa sâu xa của tính chất duy nhất của mỗi người, v́ chính nó là nguồn mạch của sự phong phú muôn mặt của toàn thể Giáo Hội. V́ thế mà Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô đă gọi mỗi người trong chúng ta bằng tên riêng của họ, không lẫn lộn người này với người kia. Lời mời gọi của Chúa: “Các con cũng hăy vào làm việc trong vườn nho của Ta”, lời mời gọi này dành riêng cho từng người một có nghĩa là: “Con, chính con, con hăy vào làm việc trong vườn nho của Thầy”.
 

Như thế, mỗi người trong chúng ta, mặc dù vẫn giữ đặc tính duy nhất của ḿnh, vẫn được trọng dụng để làm cho sự hiệp thông Giáo Hội tăng trưởng bằng sinh hoạt và sự hiện diện thực tế của ḿnh, cũng như mỗi người chúng ta nhận lănh và đồng hóa theo cách thế của ḿnh, cho sự phong phú của toàn thể Giáo Hội. Đó là chính là ư nghĩa “Các Thánh Thông Công” mà chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính. Ích lợi của mỗi người là ích lợi của mọi người. Thánh Grêgôriô Cả nói: “Trong Giáo Hội, mỗi người lo nâng đỡ từng người”.
 

H̀NH THỨC THAM GIA CÁ NHÂN CỦA MỖI NGƯỜI
 

Điều tuyệt đối cần thiết là mỗi tín hữu giáo dân phải ư thức sâu xa ḿnh là “phần thân thể của Giáo Hội” và nhiệm vụ đặc biệt được giao phó cho ḿnh, một nhiệm vụ không thể thay thế được cũng không thể nhờ ai làm thay, một nhiệm vụ chính ḿnh phải chu toàn v́ lợi ích chung của mọi người. Theo cái nh́n này chúng ta mới hiểu được hết ư nghĩa của Công Đồng khi quả quyết rằng mỗi người bắt buộc phải làm việc tông đồ: “Việc tông đồ mà mỗi người phải thực hiện bắt nguồn từ mạch sống phong phú đích thực Kitô giáo” (Ga 4:14). Là căn bản và điều kiện của mọi hoạt động tông đồ giáo dân, kể cả việc tông đồ giáo dân tập thể và không có ǵ có thể thay thế việc đó được! Việc tông đồ cá nhân này rất hiệu quả ở bất cứ nơi nào và thời đại nào. Hơn nữa, trong một số hoàn cảnh, chỉ có hoạt động tông đồ này mới thích hợp và mới có thể thực hiện được. Mỗi người giáo dân, dù thuộc thành phần nào đi nữa, dù không có cơ Hội hay khả năng để cộng tác trong các Hội đoàn, đều được kêu gọi, và hơn nữa phải làm việc cá nhân.104
 

Việc tông đồ cá nhân chứa đựng nhiều kho tàng phong phú cần được khai thác, để người giáo dân thấy mà thêm ḷng hăng say trong việc truyền giáo. Nhờ h́nh thức làm tông đồ này mà ánh sáng Phúc Âm được tỏa sáng trên các khu vực và môi trường sống, trong đó cuộc sống hằng ngày của giáo dân phải tiếp xúc. Đây là một sự chiếu giải Phúc Âm quyết liệt thâm sâu. Bởi v́ người tín hữu giáo dân cùng chung một điều kiện sinh sống, cùng chung một việc làm, cùng chia sẻ những khó khăn, những niềm hy vọng của anh em ḿnh, họ có thể cảm kích tâm hồn người bên cạnh, các bạn hữu, các đồng nghiệp, và mở rộng cho họ thấy một chân trời toàn diện, ư nghĩa trọn hảo của cuộc sống. Đó là sự hiệp thông với Thiên Chúa và với mọi người.
 

H̀NH THỨC THAM DỰ TẬP THỂ

 

29. Sự hiệp thông Giáo Hội đă sẵn có và đang linh động trong sinh hoạt của mỗi người, lại mang thêm ư nghĩa riêng biệt khi các tín hữu giáo dân hợp tác sinh hoạt chung, nghĩa là khi họ đoàn kết để hoạt động và tham gia với một tinh thần trách nhiệm vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội.
 

Trong thời gian sau này, người ta thấy có rất nhiều hiệp hội Giáo dân ra đời và hoạt động rất hăng hái đắc lực. Trong lịch sử Giáo Hội các hiệp hội tín hữu đă phát sinh và tiếp nối liên tục cho đến ngày hôm nay như các hội đoàn, các Ḍng Ba, các cộng đồng huynh đệ. Nhưng trong thời đại ngày nay hiện tượng này đă bùng phát một cách đặc biệt, đây đó phát sinh và lan tràn nhiều h́nh thức tập thể như: hiệp hội, nhóm, cộng đồng, phong trào. Nói được đây là một mùa gặt mới của các hội đoàn tín hữu giáo dân. Bởi v́ “bên cạnh các nhóm cổ truyền, mọc lên những phong trào và nhóm mới có khi bắt nguồn từ nhóm cổ truyền, nhưng lại có bộ mặt và mục đích riêng. Nguồn mạch và ơn Chúa Thánh Thần càng phong phú và muôn mặt trong cơ cấu Giáo Hội, th́ khả năng sáng tạo và tâm hồn đại độ của người giáo dân càng lớn lao”.105
 

Tín hữu giáo dân qui tụ thành đoàn thể v́ lư do thiêng liêng hay tông đồ, là do nhiều nguồn mạch thúc đẩy và cũng để đáp ứng lại nhiều nhu cầu đ̣i hỏi. Thực ra, bản tính xă hội của con người và v́ con người muốn đạt được hiệu quả sâu rộng và quyết liệt trong hành động của ḿnh. Trong thực tế, hiệu lực văn hóa, nguồn mạch và khích lệ, cũng là kết quả và là dấu hiệu biến đổi xă hội đă không thể đạt được do công việc của từng cá nhân, mà nhờ vào hoạt động của một “chủ thể xă hội” nghĩa là của một nhóm, một cộng đoàn, một hiệp hội, một phong trào, đặc biệt trong một xă hội muôn mặt và phân hóa như trong nhiều nước trên thế giới ngày nay, và trước vấn đề đă trở thành quá phức tạp và khó khăn. Nhất là trong một thế giới đă bị tục hóa, nhiều người thấy rằng những sinh hoạt hội đoàn có thể giúp họ sống đời sống đạo trung thành với các đ̣i hỏi Phúc Âm và dấn thân vào việc truyền giáo tông đồ một cách đắc lực.
 

Ngoài các lư do trên, lư do sâu xa đ̣i hỏi các tín hữu giáo dân phải tụ tập nhau thành nhóm, chính là lư do thần học xây dựng trên khoa Giáo-hội-học như Công Đồng Vaticanô II đă công nhận. Công đồng nhận thấy trong việc tông đồ tập thể là “một dấu hiệu của sự hiệp thông và tính cách hợp nhất của Giáo Hội trong Chúa Kitô”.
 

Đây là “một dấu hiệu” phải biểu lộ trong mối tương giao “hiệp thông” đối nội và đối ngoại của các hội đoàn hay đoàn thể nằm trong khuôn khổ rộng răi của Công Đồng Kitô hữu. Chính do khoa Giáo-hội-học mà người tín hữu giáo dân có “quyền” qui tụ thành đoàn thể. Cũng v́ lư do này mà cần phải có “tiêu chuẩn” phân biệt h́nh thức hiệp hội nào chân chính, đích thực thuộc về Giáo Hội.
 

Trước tiên phải công nhận là người tín hữu giáo dân có quyền tự do thành lập hội đoàn trong Giáo Hội. Quyền tự do này là một quyền lợi thật, nó không phải chỉ là một h́nh thức “nhân nhượng” của giáo quyền mà là hậu quả đương nhiên của phép Rửa Tội. Là một bí tích, Phép Rửa Tội kêu gọi các tín hữu giáo dân phải tích cực tham gia vào sự hiệp thông và sứ mệnh của Giáo Hội. Công đồng đă nói rơ ràng về điều này: “Giáo dân có quyền thành lập các hội đoàn, điều khiển và ghi tên vào các đoàn thể đă có sẵn miễn là phải giữ mối liên lạc cần thiết với giáo quyền”. 107 Giáo luật lại quả quyết: “Các tín hữu có quyền tự do thiết lập và điều khiển các Hội đoàn nhằm mục đích từ thiện hay đạo đức, hoặc nhằm cổ vơ ơn gọi của người Kitô trong thế giới; họ cũng có quyền nhóm họp để cùng theo đuổi đạt tới các mục đích đó”. 108
 

Đây là một quyền tự do được công nhận và bảo đảm do giáo quyền, nhưng phải luôn luôn thi hành trong sự hiệp thông với Giáo Hội. Do đó, quyền lợi của người tín hữu giáo dân được tự do Hội họp là một quyền lợi nối kết mật thiết với đời sống chung và sứ mệnh chính của Giáo Hội.
 

TIÊU CHUẨN ĐỂ NH̀N NHẬN TÍNH CÁCH GIÁO HỘI ĐỐI VỚI CÁC HIỆP HỘI GIÁO DÂN

 

30. Cần phải có các tiêu chuẩn rơ ràng và chính xác để phân biệt và nh́n nhận các hội đoàn Giáo dân, có thể gọi là “tiêu chuẩn có tính cách Giáo Hội”. Đó không phải là để hạn chế quyền tự do hiệp hội mà chính là để cho các đoàn thể ấy thực hiện được sự hiệp thông và sứ mệnh của Giáo Hội. Những tiêu chuẩn nền tảng để phân biệt các hội đoàn giáo dân trong Giáo Hội là những tiêu chuẩn sau đây:
 

- Ơn gọi nên Thánh của người Kitô hữu, đó là mục đích tiên quyết.
 

Điều này phải được biểu lộ trong ơn Chúa Thánh Thần phát sinh nơi người tín hữu 109 để họ lớn lên cho đến tuổi trưởng thành sung măn của đời sống đạo và đến mức trọn lành của Đức Ái. 110
 

V́ thế tất cả các hội đoàn Công giáo được kêu gọi để ngày càng trở nên phương tiện thánh hóa trong Giáo Hội. Một phương tiện giúp đỡ và khích lệ “sự hiệp nhất thâm sâu giữa cuộc sống thường nhật với Đức Tin của các Hội viên”.
 

- Sự dấn thân tuyên xưng đức tin Công giáo trong việc nhận lănh và rao truyền chân lư về Chúa Kitô, về Giáo Hội, và về con người, đúng theo giáo huấn của Giáo Hội là Thầy dạy chân chính. Tất cả các hiệp hội của người tín hữu giáo dân phải trở nên “một nơi rao truyền và thông đạt Đức tin và giáo dục sống Đức tin này trọn vẹn”. 111
 

- Phải minh chứng một đời sống hiệp nhất kiên cường vững chắc, trong t́nh nghĩa phụ tử đối với Đức Giáo Hoàng, trung tâm muôn thuở và hữu h́nh của sự hiệp nhất trong Giáo Hội hoàn vũ, 112 đối với Giám mục “Nguyên lư hiển hiện và nền móng của sự hợp nhất” 113 của Giáo Hội địa phương và “tất cả các h́nh thức tông đồ khác của Giáo Hội” 114
 

Sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng và với Giám mục phải tỏ ra bằng cách sẵn sàng, ngay thẳng nhận lănh các giáo dân tín lư và chỉ giáo mục vụ của các Ngài. Hiệp thông với Giáo Hội c̣n đ̣i hỏi phải chấp nhận h́nh thức đa diện hợp pháp của các tín hữu giáo dân trong Giáo Hội và đồng thời sẵn sàng hợp tác chung với nhau.
 

- Thỏa thuận và cộng tác để thực hiện sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội, là “rao truyền Phúc âm và Thánh hóa nhân loại, và đào tạo cho con ngựi một lương tâm Công giáo đích thực để họ có thể đem tinh thần Phúc âm thấm nhuần mọi cộng đồng cũng như mọi lănh vực của đời sống”. 115
 

Theo viễn tượng này, tất cả mọi h́nh thức hiệp Hội của người tín hữu giáo dân phải có một tinh thần truyền giáo hăng say để trở thành dụng cụ ngày càng sinh động cho việc truyền bá Phúc âm.
 

- Dấn thân hiện diện trong xă hội loài người để phục vụ nhân phẩm toàn diện con người, đúng theo học thuyết xă Hội của Giáo Hội.
 

Như thế, các hội đoàn Giáo dân phải trở nên những trào lưu mạnh mẽ thu hút nhiều người và liên đới để tạo nên những điều kiện công b́nh và huynh đệ hơn cho đời sống xă hội.
 

Những tiêu chuẩn nền tảng vừa tŕnh bày trên đă được chứng minh rơ ràng trong những kết quả cụ thể tốt đẹp trong đời sống và hoạt động của các h́nh thức hiệp hội, chẳng hạn việc ưa thích cầu nguyện, suy ngắm, đời sống phụng vụ và bí tích; việc tổ chức để giúp đỡ thanh thiếu niên ư thức ơn gọi hôn nhân, ơn gọi Linh mục, ơn gọi đời sống tận hiến; sẵn sàng tham gia vào các chương tŕnh và hoạt động của Giáo Hội trên b́nh diện quốc gia và quốc tế, dấn thân vào việc dạy giáo lư và trao đổi khả năng sư phạm để đào tạo Kitô hữu trong các lănh vực xă hội; thành lập và làm linh động các công tác từ thiện, văn hóa và thiêng liêng; tạo tinh thần vô vị lợi và nghèo khó Phúc Âm để thực hiện ḷng bác ái đại độ với mọi người; giúp kẻ đă chịu phép Rửa Tội nhưng lại “bê tha” trở lại đời sống Kitô hữu.
 

PHẬN SỰ CỦA VỊ CHỦ CHĂN ĐỂ THỰC HIỆN VIỆC HIỆP THÔNG

 

31. Trong trường hợp các hiệp hội gặp phải khó khăn và có nhiều h́nh thức mới xuất hiện, các vị Chủ Chăn trong Giáo Hội phải dùng quyền bính của ḿnh, v́ lợi ích của Giáo Hội, và cũng v́ lợi ích của chính các hội đoàn Giáo dân, các Ngài phải phán đoán, phân biệt để hướng dẫn, nhất là khích lệ cho các hiệp hội ấy trưởng thành trong sự hiệp thông và trong sứ mệnh của Giáo Hội.
 

Điều thuận lợi nên làm là các hội đoàn và các phong trào mới, khi đă phổ biến rộng răi trong nước và ngoài nước, phải được Giáo quyền có thẩm quyền chính thức công nhận. Chính Công đồng đă quả quyết về điểm này như sau: “Có nhiều h́nh thức liên hệ giữa việc tông đồ giáo dân với hàng Giáo phẩm, tuỳ theo h́nh thức và mục đích của mỗi hoạt động... Một số tổ chức tông đồ giáo dân, dưới h́nh thức này hay h́nh thức khác, đă được Giáo quyền công khai chấp nhận. Ngoài ra v́ lợi ích chung của Giáo Hội, Giáo quyền có thể lựa chọn và cổ vơ cách đặc biệt một vài tổ chức trong số những tổ chức hay hiệp Hội tông đồ sẵn có, trực tiếp nhằm mục đích thiêng liêng, và Giáo quyền cũng nhận trách nhiệm đặc biệt đối với những tổ chức ấy.” 116
 

Trong những h́nh thức Tông đồ Giáo dân có mối liên hệ đặc biệt với hàng Giáo phẩm, các Nghị phụ Thượng Hội đồng đă kê rơ các phong trào hay Hội đoàn Công giáo Tiến hành, trong đó “người giáo dân tự nguyện tổ chức có cơ cấu và cố định theo ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, trong sự hiệp thông với các Giám mục và Linh mục để có thể hoạt động một cách hăng say và trung thành theo đường hướng ơn gọi của riêng ḿnh, để mở rộng Cộng đồng Kitô hữu, và để thực hiện các chương tŕnh mục vụ, cũng như để tất cả các môi trường sống của con người được thấm nhuần tinh thần Phúc âm”. 117
 

Hội đồng Giáo Hoàng phụ trách giáo dân có bổn phận phải soạn thảo một danh sách các hiệp hội được Ṭa thánh chính thức chấp nhận và phối hợp với Văn pḥng hiệp nhất Kitô-hữu, để định rơ điều kiện chấp nhận hay không thể chấp nhận một hiệp-hội-Liên-tôn gồm những người Công giáo và một thiểu số không Công giáo. 118
 

Tất cả chúng ta, Chủ Chăn cũng như tín hữu phải t́m mọi cách để duy tŕ giữa các đoàn thể giáo dân mối giây huynh đệ để mọi người mến chuộng, yêu thương và hợp tác với nhau. Chỉ có cách này th́ kho tàng ơn Chúa ban cho chúng ta là các ân huệ, các đoàn sủng, mới có thể đóng góp một cách dồi dào và trật tự vào việc xây dựng ngôi nhà chung của chúng ta: “Để xây dựng chắc chắn ngôi nhà chung, chúng ta phải khước từ óc chia rẽ bè phái; ngược lại chúng ta phải tôn trọng và sẵn sàng cộng tác với nhau bằng một tâm hồn nhẫn nại, sáng suốt và sẵn sàng hy sinh.” 119
 

Một lần nữa chúng ta hăy đọc lại lời của Chúa Giêsu: “Ta là Cây Nho chúng con là cành” (Jn. 15:5) để cảm tạ Chúa ban cho chúng ta ơn hiệp thông trong Giáo Hội; đó là tia sáng chiếu vào thời gian, tia sáng của sự thông hiệp t́nh yêu đời đời không thể diễn tả được của Thiên Chúa Ba Ngôi. Ư thức được ơn Chúa th́ phải ư thức trách nhiệm. Bởi v́ đó là một ơn, như nén bạc trong Phúc âm, nó đ̣i hỏi phải biến thành sự sống thông hiệp ngày một lớn lên.
 

Nhận lănh trách nhiệm về ơn thông hiệp, trước tiên có nghĩa là phấn đấu để thắng chia rẽ và đối lập; chính ba cám dỗ này đe dọa sự sống và sự dấn thân làm tông đồ của các người Kitô hữu. Thánh Phaolô đă đau đớn kêu lên: “Ta nghe mỗi người trong anh em nói: “Tôi thuộc về Phaolô, và tôi thuộc về Apollô, c̣n tôi thuộc về Cepha và tôi thuộc về Chúa Kitô; thế th́ Chúa Kitô bị chia năm xẻ bảy sao?” (1Cor. 1:12-13). Lời này vẫn c̣n vang vọng như một trách móc trước cảnh “nhiệm thể Chúa Kitô bị xâu xé”. Ngược lại chúng ta hăy lắng nghe dư âm của lời mời gọi cũng của Thánh Phaolô sau đây: “Thưa anh em, nhân danh Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, tôi nài xin toàn thể anh em hăy nhất tâm đừng chia rẽ, nhưng hăy hợp nhất và đoàn kết với nhau trong tinh thần, và trong tư tưởng” (1Cor. 1:10).
 

Như thế sự sống thông hiệp của Giáo Hội trở nên một dấu chỉ cho thế giới và là một hấp lực thu hút mọi người tới niềm tin vào Chúa Kitô: “Lạy Cha, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, xin cho họ trở thành một trong chúng ta để thế gian tin rằng Cha đă sai Con”. (Jn. 17:21). Như thế sự hiệp thông hướng về truyền giáo và chính sự hiệp thông là truyền giáo.
 

CHƯƠNG III
 

THẦY ĐĂ SAI CHÚNG CON RA ĐI VÀ MANG LẠI KẾT QUẢ


Tinh thần đồng trách nhiệm của tín hữu Giáo dân trong Giáo hội Truyền giáo
 

SỰ THÔNG HIỆP TRUYỀN GIÁO
 

32. Chúng ta hăy lấy lại h́nh ảnh Thánh Kinh của cây nho và cành nho. Nó giúp chúng ta nhận xét về sự phong phú và sức sống một cách dễ dàng tự nhiên. Các cành cây dính liền với thân cây và sống do nhựa sống của thân cây, dĩ nhiên phải sinh hoa kết quả: “Ta là cây nho, chúng con là cành. Cành nào ở trong Ta và Ta ở trong nó, nó sẽ trổ sinh nhiều hoa trái” (Jn. 15: 5). Trổ sinh hoa trái là một đ̣i hỏi căn bản của đời sống Kitô hữu trong Giáo hội. Ai không trổ sinh hoa trái th́ không ở trong sự hiệp thông: “Bất cứ cành nào ở trong Ta mà không trổ sinh hoa trái, (Cha Ta) sẽ chặt nó đi” (Jn. 15:2).
 

Thông hiệp với Chúa Giêsu, nguồn hiệp thông giữa các Kitô hữu với nhau, là một điều kiện không thể không có để trổ sinh hoa trái: “Ngoài Ta, chúng con không thể làm được ǵ” (Jn. 15:5). Và sự hiệp thông với tha nhân là hoa đẹp nhất của cành nho. Đó là ơn của Đức Kitô và của Thánh Thần Ngài.
 

Sự thông hiệp phát sinh hợp nhất và bản chất nó là hiệp thông truyền giáo. V́ Chúa Giêsu đă nói với môn đệ Ngài rằng: “Không phải các con chọn Thầy, chính Thầy đă tuyển chọn các con và sai các con đi mang lại kết quả và để kết quả ấy tồn tại” (Jn. 15:16).
 

Sự hiệp thông và việc truyền giáo gắn liền với nhau, xâm nhập và quấn quít nhau và đă trở nên như nguồn mạch, và là hoa trái của việc truyền giáo. Hiệp thông là truyền giáo, và truyền giáo có mục đích thể hiện sự hiệp thông. Chính một Chúa Thánh Thần kêu gọi và hiệp nhất Giáo hội và sai Giáo hội đi rao giảng Phúc Âm “khắp trên mặt đất” (Acts. 1:8). C̣n Giáo hội, Giáo hội biết sự hiệp thông là ơn Chúa, nó có sứ mệnh đối với mọi người. Như thế Giáo hội cảm thấy mắc nợ đă nhận lănh từ Chúa Thánh Thần, Đấng đă ban tràn Đức Ái của Chúa Cha trong ḷng các kẻ tin tưởng, là sức mạnh nối kết bên trong và cũng là sức mạnh bành trướng bên ngoài. Sứ mệnh của Giáo hội nằm ngay trong bản tính của ḿnh như Chúa Kitô đă muốn: đó là sứ mệnh phải trở nên “dấu chỉ và phương thế... làm cho toàn thể nhân loại được hợp nhất.”120 Sứ mệnh này có mục đích làm cho mọi người biết và sống sự hiệp thông “mới”; sự hiệp thông đi vào lịch sử thế giới nhờ con Thiên Chúa làm người. Chính theo nghĩa này, Thánh Gioan thánh sử đă minh định một cách quyết liệt cứu cánh “hạnh phúc” mà sứ mệnh Giáo hội phải đạt tới: “Điều mà chúng tôi đă chiêm ngưỡng, đă nghe thấy, chúng tôi đă loan truyền cho anh em, để anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi. Và chúng tôi, chúng tôi được hiệp thông với Chúa Cha và với Con Ngài là Đức Giêsu Kitô” (1 Jn. 1:3).
 

Cũng trong sứ mệnh của Giáo hội, Chúa đă giao phó cho người tín hữu giáo dân, trong sự hiệp thông tất cả các thành phần của Dân Chúa, một phần trách nhiệm rất lớn. Các Nghị Phụ Công đồng Vaticanô II đă ư thức rơ ràng về việc này: “Các chủ chăn biết rơ giáo dân giúp ích rất nhiều cho toàn thể Giáo hội. Các Ngài biết rằng Chúa Kitô không đặt các Ngài lên để một ḿnh lănh lấy tất cả sứ mệnh cứu độ của Giáo hội đối với thế giới, nhưng nhiệm vụ cao cả của các Ngài là hướng dẫn tín hữu và nhận biết các phận sự và ơn sủng riêng của họ, để mọi người cùng góp phần vào công cuộc chung, tùy theo cách thức của họ trong sự hợp nhất.”121 Tiếp theo trong Thượng hội đồng Giám mục, sự xác tín của các Ngài về vấn đề này được nhắc lại một cách rơ ràng và mạnh mẽ hơn nữa.
 

RAO TRUYỀN PHÚC ÂM
 

33. Các tín hữu giáo dân, v́ thuộc thành phần của Giáo hội nên được mời gọi và nhận lănh sứ mệnh rao truyền Phúc Âm: Họ đă được chuẩn bị để dấn thân chu toàn hoạt động này bằng các Bí tích của đời sống Kitô hữu vào ơn Chúa Thánh Thần.
 

Một văn bản rơ ràng và súc tích của Công đồng Vaticanô II nói: “Giáo dân góp phần tích cực vào đời sống và hoạt động của Giáo hội, nhờ được tham dự vào chức vụ của Chúa Kitô là tư tế, tiên tri và là vua... Được nuôi dưỡng nhờ tham dự vào đời sống phụng vụ của cộng đoàn, chính họ nhiệt thành góp phần vào những hoạt động tông đồ của chính cộng đoàn đó; họ đem những người có lẽ đang xa lạc trở về với Giáo hội. Họ cộng tác đắc lực vào việc rao truyền Lời Chúa, nhất là bằng việc dạy giáo lư. Họ đem khả năng của ḿnh làm cho việc coi sóc các linh hồn, và cả việc quản trị tài sản của Giáo hội sinh hiệu quả hơn”.122
 

Tất cả sứ mệnh của Giáo hội quy tụ và biểu dương trong việc rao truyền Phúc Âm. Con đường lịch sử của Giáo hội được ơn Chúa che chở và đi theo mệnh lệnh của Đức Giêsu Kitô: “Chúng con hăy đi khắp thế giới, rao giảng Tin Mừng cho mọi người”. (Mt. 16:15) “Và Thầy sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt. 28:20). Đức Phaolô VI lại viết: “Rao truyền Phúc Âm, đó là ân sủng và là lời mời gọi riêng của Giáo hội, là bản tính sâu xa của Giáo hội”.123
 

Nhờ rao giảng Phúc Âm, Giáo hội được xây dựng và trở thành cộng đồng Đức Tin, nói rơ hơn là trở thành cộng đồng của một Đức Tin bằng Lời Chúa, một Đức Tin cử hành trong các Bí tích và sống trong Đức Ái là linh hồn của đời sống luân lư Kitô hữu. V́ “tin mừng” thức tỉnh con người trong cuộc sống, sự ăn năn trở lại và kết hợp với Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế và Chúa Tể; chuẩn bị cho con người nhận lănh phép Rửa Tội, phép Thánh Thể và trở nên vững chắc khi quyết tâm thể hiện một đời sống mới theo ơn soi dẫn của Chúa Thánh Thần.
 

Mệnh lệnh của Chúa “Chúng con hăy đi rao giảng Phúc Âm”, chắc chắn vẫn luôn giữ giá trị linh động và cần phải được thi hành. t́nh thế hiện tại của thế giới cũng như của nhiều địa hạt trong Giáo hội, càng đ̣i hỏi lời Đức Kitô phải được tuân theo một cách sẵn sàng, mau chóng và đại độ. Mỗi người được gọi riêng và không ai được quyền từ chối trả lời: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm” (1 Cor. 9:16).
 

ĐĂ ĐẾN GIỜ PHẢI ĐỔI MỚI VIỆC RAO GIẢNG PHÚC ÂM

 

34. Có những nước, những quốc gia xưa kia hoàn toàn Công giáo và đời sống Kitô hữu rất nhiệt thành, từng nẩy sinh những cộng đồng Đức Tin sống động và linh hoạt; nhưng ngày nay lại bị thử thách trầm trọng và có khi lại bị biến đổi tận gốc rễ v́ các học thuyết vô thần, t́nh trạng tục hóa và vô đạo. Nhất là những nước, những quốc gia được gọi là Nhất Thế Giới, nơi đó con người chỉ biết hưởng thụ và chạy đua tiêu thụ, mặc dầu bên cạnh họ c̣n có những t́nh trạng nghèo đói và khốn cùng ghê gớm; họ sống một đời sống “như thể không có Thiên Chúa”. Trước t́nh trạng thờ ơ đối với tôn giáo và coi rẻ Thiên Chúa một cách trầm trọng của cuộc sống, c̣n đáng lo ngại và nguy hại hơn cả học thuyết vô thần. Đức Tin Công giáo mặc dù c̣n được giữ lại trong những nghi lễ cổ truyền, cũng đang từ từ bị loại khỏi những giờ phút rất nghiêm trọng của đời sống như lúc sinh sản, khi gặp đau khổ, và giờ phút ĺa đời. Do đó, có những vấn đề và những bí ẩn ghê gớm chưa giải đáp được và con người ngày nay cảm thấy thất vọng ê chề, hoặc có khi bị cám dỗ tiêu diệt sự sống đă tạo nên.
 

Ngược lại, tai nhiều nước, nhiều quốc gia tuy c̣n bảo tồn được truyền thống đạo đức sống động và tâm t́nh Công giáo, nhưng gia sản luân lư thiêng liêng ấy cũng đang bị nguy cơ biến dần v́ nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là ảnh hưởng phong trào tục hóa và các giáo phái đang lan tràn khắp nơi. Chỉ có cách đổi mới việc truyền bá Phúc Âm mới bảo đảm được Đức Tin trưởng thành, sáng suốt và sâu xa, có khả năng làm cho những truyền thống ấy trở thành một sức mạnh tự do thật.
 

Chắc chắn rằng việc tái lập cho xă hội loài người một cơ cấu căn bản Công giáo là việc làm cấp bách. Nhưng điều kiện tiên quyết, là phải tái lập cơ cấu căn bản của cộng đồng Giáo hội đang sống trong các nước, các quốc gia ấy.
 

Ngày nay, người tín hữu giáo dân nhờ tham gia vào chức vụ rao giảng của Chúa Kitô, nên được dấn thân đầy đủ vào công việc này của Giáo hội. Đặc biệt họ phải chứng tỏ cho mọi người biết là chỉ có Đức Tin mới có câu trả lời đáng giá cho các vấn đề, cho niềm hy vọng do cuộc sống tạo nên cho mọi người và cho xă hội, một câu trả lời mà mọi người nhiều hay ít đang thoáng thấy xa xa và chờ đợi. Điều này có thể thực hiện được nếu người tín hữu giáo dân thắng vượt t́nh trạng chia rẽ giữa Phúc Âm với đời sống nghĩa là biết tạo nên trong các hoạt động thường ngày, trong gia đ́nh, nơi sở làm, trong xă hội, sự hiệp nhất theo tinh thần Phúc Âm và nhờ sức mạnh của Phúc Âm để thực hiện.
 

Một lần nữa Ta lập lại với tất cả mọi người đang sống thời đại hôm nay, tiếng kêu cầu tha thiết khi Ta khai mạc đời phục vụ các linh hồn của Ta: “Các con đừng sợ, các con hăy mở, hăy mở rộng cửa cho Đức Kitô! Ngài là Đấng cứu độ quyền năng, các con hăy mở rộng cho Ngài biên giới quốc gia, các hệ thống kinh tế chính trị, các lănh vực mênh mông của văn hóa, của văn minh, của phát triển. Các con đừng sợ! Đức Kitô biết rơ “tất cả những ǵ đang ấp ủ trong ḷng người”. Chỉ có Ngài mới biết được mà thôi. Hôm nay, nhiều lần con người không biết được những ǵ họ đang mang trong ḿnh, họ đang ấp ủ tận đáy ḷng, trong thâm cung của linh hồn ḿnh. V́ thế nên họ không rơ được ư nghĩa cuộc sống trần gian. Họ bị ám ảnh nghi ngờ rồi đâm ra thất vọng. Ta yêu cầu các con, Ta van nài các con với tất cả ḷng khiêm nhượng và cậy trông, các con hăy cho phép Đức Kitô nói với các con. Chỉ có Ngài mới có lời ban sự sống. Phải, chỉ có Ngài mới có lời hằng sống.” 124
 

Mở rộng cửa cho Chúa Kitô, đón rước Ngài vào cuộc sống riêng tư của ḿnh, làm như vậy con người không bị một điều ǵ đe dọa. Trái lại, đây là con đường độc lộ phải đi qua nếu chúng ta muốn nh́n nhận tất cả sự thực về con người và tôn vinh các giá trị của nó.
 

Người tín hữu giáo dân biết đem Phúc Âm vào đời sống nghĩa vụ hằng ngày đó là chứng tá đẹp nhất và hữu hiệu nhất, để cho mọi người thấy rằng không phải sợ hăi, mà là t́m kiếm Đức Kitô, để bám chặt lấy Ngài, là yếu tố quyết định cho con ngừơi được sống và trưởng thành, và để tạo nên những mẫu sống phù hợp với phẩm giá con người.
 

Con người được Thiên Chúa yêu thương! Đó là điều rất đơn giản và cũng là rất táo bạo mà Giáo hội phải loan truyền cho mọi người. Lời nói và đời sống của mỗi người Kitô hữu phải là dư âm của sứ điệp này: Thiên Chúa yêu thương con. Đức Kitô đă đến v́ con, v́ con mà Đức Kitô trở nên “Đường, Sự Thật và Sự Sống” (Jn. 14:6).
 

Việc rao giảng Phúc Âm không phải chỉ cho từng người, mà cho toàn thể các dân tộc tùy theo t́nh trạng, cảnh vực và văn hóa riêng của họ. Mục đích là cố ư tạo nên sự thông hiệp Giáo hội trưởng thành, nghĩa là sống Đức Tin, là theo sát con người của Chúa Kitô và Phúc Âm của Ngài, là gặp gỡ và hiệp thông với Ngài nhờ các Bí tích, là sống Bác Ái và phục vụ. Đó là ư nghĩa nguyên thủy của Đức tin.
 

Vai tṛ của tín hữu giáo dân là tạo nên những cộng đồng Giáo hội, không phải chỉ bằng cách tích cực tham gia với tinh thần trách nhiệm vào đời sống cộng đồng, một việc chúng ta không thể thay thế được, mà c̣n bằng cách hăng say làm việc tông đồ cho những người chưa có Đức tin hoặc không sống theo Đức tin đă nhận lănh trong phép Rửa tội.
 

Đối với các thế hệ trẻ, người tín hữu giáo dân c̣n phải đóng góp, một sự đóng góp quư giá cần thiết hơn bao giờ hết, là cố gắng dạy giáo lư cho họ. Các Nghị phụ Thượng Hội đồng đă tỏ ḷng biết ơn công việc của các người dạy giáo lư, nh́n nhận “vai tṛ của họ rất có giá trị trong việc làm cho các cộng đồng Giáo hội thêm sức sống”125 Các bậc phụ huynh Công giáo nhờ phép Hôn phối đă trở nên những người dạy giáo lư trước hết cho con cái không ai thay thế được. Nhưng tất cả chúng ta đồng thời cũng phải xác tín là mọi người đă chịu phép Rửa tội đều có “quyền lợi” phải được dạy dỗ, được giáo dục, và được theo dơi trong Đức Tin và trong đời sống Công giáo.
 

CHÚNG CON HĂY ĐI KHẮP THẾ GIỚI

 

35. Trong khi nhận xét và kinh nghiệm t́nh trạng khẩn cấp thúc đẩy phải rao giảng Phúc Âm theo một đường lối mới, Giáo hội không thể tránh né sứ mệnh thường trực của ḿnh là đem Phúc Âm đến cho từng triệu triệu người cả nam lẫn nữ chưa nhận biết Chúa Kitô, Đấng Cứu Rỗi con người. Đó là công việc đặc biệt truyền giáo mà Đức Kitô đă trao phó và c̣n trao phó mỗi ngày cho Giáo hội.
 

Công việc của các tín hữu giáo dân, mặc dù luôn luôn đă đóng góp trong phạm vi này, nhưng ở giai đoạn này lại cần thiết và quư giá hơn. Thực ra, mệnh lệnh của Chúa – “Chúng con hăy đi khắp thế giới” – vẫn có những giáo dân đại độ hưởng ứng, họ sẵn sàng từ bỏ nơi sinh sống của ḿnh, bỏ công việc, bỏ làng xóm quê hương để lao ḿnh vào các xứ truyền giáo, ít nữa trong một thời gian hạn định – cũng có những cặp vợ chồng Công giáo theo gương ông bà Aquila và Priscilla xưa (Acts. 18; Rom. 16:3) đă nêu gương chứng nhân t́nh yêu say sưa đối với Chúa Kitô và Giáo hội bằng đời sống hy sinh trong các xứ truyền giáo. Ngoài ra c̣n có sự hiện diện truyền giáo đích thực khác do những người Kitô hữu v́ nhiều lư do phải sống làm chứng Đức tin trong các nước hay những nơi Giáo hội chưa được thiết lập.
 

Nhưng ngày nay vấn đề truyền giáo của Giáo hội đă trở nên quá rộng lớn và khẩn thiết, v́ thế chỉ khi nào tất cả mọi thành phần Giáo hội từng cá nhân hay từng nhóm đồng liên đới chịu trách nhiệm trong việc truyền giáo, mới có hy vọng đem lại kết quả mỹ măn.
 

Lời mời gọi của Công đồng Vaticanô II kêu cầu các Giáo hội địa phương vẫn c̣n nguyên giá trị: “V́ Giáo hội địa phương có nhiệm vụ phản ảnh Giáo hội hoàn vũ một cách hết sức hoàn hảo, nên phải thành thực nhận định ḿnh cũng được sai tới những kẻ chưa tin Chúa Kitô”. 126
 

Giáo hội hôm nay phải tiến tới trong việc rao truyền Phúc Âm, phải bước vào một giai đoạn lịch sử mới của tiềm thức truyền giáo. Trong một thế giới không c̣n khoảng cách và ngày nay trở nên nhỏ bé, các cộng đồng Giáo hội càng phải hợp nhất với nhau và cùng nhau dấn thân trong cùng một sứ mệnh độc nhất là rao truyền và sống Phúc Âm. Các Nghị phụ Thượng Hội đồng tuyên bố: “Các Giáo hội trẻ cần sức mạnh của các Giáo hội trưởng thành, và đồng thời các Giáo hội này cũng cần chứng tá và sự thúc đẩy của các Giáo hội trẻ; như thế Giáo hội này hưởng nhờ kho tàng của Giáo hội kia”.127
 

Trong giai đoạn mới này, việc đào tạo hàng giáo sĩ địa phương cũng như đào tạo hàng giáo dân trưởng thành và có tinh thần trách nhiệm, đối với các Giáo hội trẻ, là một yếu tố cơ bản và cần thiết cho việc thiết lập Giáo hội.128 Và như thế các cộng đồng đă nhận được Phúc Âm lại rao truyền cho các nước khác trên thế giới để đáp lại sứ mệnh rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô và làm chứng nhân.
 

Các tín hữu giáo dân nhờ gương sáng và hoạt động của ḿnh có thể cải thiện được những mối tương giao với các tín đồ thuộc các tôn giáo bạn như các Nghị phụ Thượng hội đồng đă lưu ư: “Ngày nay Giáo hội hoạt động khắp nơi giữa những người theo tôn giáo khác nhau... Tất cả các tín hữu, nhất là giáo dân đang sống giữa các dân tộc theo tôn giáo khác hoặc ở trong nước ḿnh cư ngụ, các giáo dân này phải trở nên chứng nhân cho Chúa và Giáo hội đối với người dân bản xứ một cách thích nghi với hoàn cảnh sống riêng biệt. Việc đối thoại giữa các tôn giáo rất quan trọng v́ nhờ đó họ biết yêu thương và kính trọng nhau, hay ít nữa xóa bỏ, xoa dịu các thiên kiến giữa các tín đồ các đạo, và cổ vơ được sự hiệp nhất và t́nh bằng hữu giữa các dân tộc.129
 

Muốn Phúc Âm hóa các dân tộc, cần phải có các tông đồ. Muốn thế, tất cả chúng ta, bắt nguồn từ các gia đ́nh Công giáo, chúng ta phải ư thức trách nhiệm của chúng ta là t́m cách làm nẩy nở và chín mùi ơn kêu gọi, đặc biệt ơn thừa sai, bằng lời cầu nguyện, theo lời Chúa Giêsu dạy: “Lúa chín đầy đồng, thợ gặt lại ít. Chúng con hăy cầu xin Chủ Nhà sai thêm thợ gặt” (Mt. 9:37-38).
 

SỐNG PHÚC ÂM BẰNG CÁCH PHỤC VỤ CON NGƯỜI VÀ XĂ HỘI
 

36. Giáo hội vừa nhận lănh vừa loan truyền Phúc Âm trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần; như thế Giáo hội trở nên một cộng đồng được Phúc-Am-hóa, đồng thời Phúc Âm hóa kẻ khác, và trở nên đầy tớ của mọi người. Trong Giáo hội các tín hữu giáo dân tham gia vào sứ mệnh phục vụ con người và xă hội. Cùng đích cao cả của Giáo hội là Nước Thiên Chúa; Giáo hội là “hạt giống và là khởi điểm của Nước Thiên Chúa trên mặt đất”,130 v́ thế Giáo hội hoàn toàn tận hiến để làm vinh danh Chúa Cha. Nhưng Nước Chúa là nguồn mạch giải phóng toàn diện và cứu độ của mọi người. Giáo hội tiến bước với con người và sống với lịch sử con người trong một t́nh liên đới toàn diện và thân mật.
 

Giáo hội đă nhận lănh trọng trách biểu lộ cho thế giới Mầu Nhiệm Thiên Chúa sáng chói trong Đức Giêsu Kitô, th́ đồng thời Giáo hội cũng mặc khải con người cho con người, daỵ họ biết ư nghĩa cuộc sống, và bày tỏ cho con người biết chân lư toàn diện và về vận mạng của Giáo hội.131 V́ thế con người “là con đường thứ nhất Giáo hội phải theo để hoàn thành sứ mạng của ḿnh: Là con đường căn bản thứ nhất của Giáo hội, đă được Chúa Kitô vạch ra, con đường xuyên qua Mầu Nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc”.133
 

Theo ư nghĩa này, mà Công đồng Vaticanô II đă đề cập đến nhiều lần trong nhiều văn kiện một cách rơ ràng và mạnh mẽ. Chúng ta hăy đọc lại bản văn đặc biệt ư nghĩa của Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng: “Trong khi theo đuổi mục đích cứu rỗi cá biệt của ḿnh, Giáo hội không phải chỉ truyền thông sự sống Thiên Chúa cho con người, nhưng c̣n chiếu giăi ánh sáng đời sống ấy trên toàn thế giới. Giáo hội làm công việc này trước hết bằng cách chữa trị và nâng cao phẩm giá nhân vị, củng cố t́nh đoàn kết xă hội nhân loại, và thấm nhuần cho hoạt động thường nhật của con người một chiều hướng và một ư nghĩa sâu xa hơn. Như thế nhờ từng phần tử và tất cả cộng đoàn, Giáo hội tin tưởng có thể đóng góp nhiều vào việc biến đổi gia đ́nh nhân loại và lịch sử của nó để trở thành nhân đạo hơn”.134
 

Trong việc đóng góp này cho gia đ́nh nhân loại mà Giáo hội phải chịu trách nhiệm, các tín hữu giáo dân chiếm một chỗ đứng đặc biệt, lư do là “đặc tính trần thế” của họ bắt buộc họ dấn thân “đem đạo vào đời” theo cách thế cá biệt của họ mà không ai thay thế được.
 

THĂNG TIẾN PHẨM GIÁ CON NGƯỜI

 

37. Khám phá và giúp khám phá phẩm giá bất khả xâm phạm của mọi con người, đó là bổn phận chính yếu, là trung tâm căn bản có mănh lực hiệp nhất mà Giáo hội và con cái của Giáo hội được kêu gọi để chu toàn đối với gia đ́nh nhân loại.
 

Trong các thụ tạo trên mặt đất, chỉ có con người là “một nhân vị, một chủ thể hiểu biết và tự do”, và v́ thế nó là “trung tâm điểm và là cao điểm” của tất cả tạo vật khác sống trên mặt đất.135
 

Phẩm giá nhân vị là tài sản quư hóa nhất của con người, nhờ đó mà nó trổi vượt trên cả thế giới vật chất này. Lời của Chúa Giêsu phán: “Được lợi lăi cả thế gian mà phải mất linh hồn nào có ích chi?” (Mk. 8:36), hàm chứa một lời quả quyết rơ ràng và đầy khích lệ. Giá trị con người không chủ tại nơi tài sản nó có, cho dù nó chiếm hữu trọn cả thế giới này, nhưng chủ tại nơi “bản chất” của nó. Của cải thế gian không đáng giá bằng của cải nhân vị v́ nhân vị chính là của đáng quư.
 

Nếu chúng ta nh́n phẩm giá con người từ nguồn gốc và vận mạng của nó, chúng ta sẽ thấy nó rực rỡ sáng chói. Con người được dựng nên giống h́nh ảnh Thiên Chúa và được Máu châu báu của Chúa Kitô Cứu Chuộc nên nó được kêu gọi trở thành “Những người con trong Đức Chúa Con” và trở nên đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần, và được hưởng sự sống đời đời thông hiệp hạnh phúc với Thiên Chúa. V́ lư do này nên mọi xúc phạm đến nhân phẩm con người đều bị báo oán trước mặt Thiên Chúa và là sự xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa đă dựng nên con người.
 

Nhờ có nhân phẩm, con người luôn luôn tự nó là một giá trị cho chính nó, và nó phải được nh́n nhận và đối xử với giá trị ấy, ngược lại, nó không thể bị nh́n nhận và đối xử như một vật để sử dụng một phương tiện, hay một đồ vật.
 

Chính nhân phẩm con người là nền tảng của sự b́nh đẳng với nhau. Bởi đó tuyệt đối phải loại bỏ tất cả mọi h́nh thức kỳ thị. Tiếc thay, nạn kỳ thị đă và vẫn tiếp tục chia rẽ và làm ô nhục gia đ́nh nhân loại, nào là kỳ thị chủng tộc, kỳ thị kinh tế, kỳ thị xă hội, kỳ thị văn hóa, kỳ thị chính trị là một sự bất công không thể chấp nhận, không phải v́ nó tạo nên những căng thẳng, những tranh chấp xă hội, nhưng v́ nó làm nhục cho phẩm giá con người: không chỉ phẩm giá của nạn nhân bị nhục, mà phẩm giá của thủ phạm lại càng bị hổ nhục hơn.
 

Phẩm giá con người không chỉ là nền tảng của sự b́nh đẳng giữa mọi người, nó c̣n là nền móng của việc tham gia và liên đới giữa con người với nhau: Đối thoại và thông cảm được bắt nguồn từ bản tính con người, chứ không phải do cái con người “có”.
 

Nhân phẩm là do một tư sản không thể hủy diệt của mọi người. Lời quả quyết này có một sức mạnh phi thường, nó dựa trên đặc tính thuần nhất không thay thế được của mọi nhân vị. V́ đó, mà con người đă chống lại một cách bất khuất tất cả mọi toan tính đè bẹp, tiêu diệt họ bằng cách đặt họ vào t́nh trạng vô danh của tập thể, của thể chế, của cơ cấu hay hệ thống. Nhân vị trong cá tính của nó không phải là một con số, nó cũng không phải là một ṿng tṛn trong mọt dây xích, hay một bánh xe trong một hệ thống. Lời quả quyết căn bản và đầy ư nghĩa về giá trị của con người đă thể hiện bởi con Thiên Chúa khi Ngài nhập thể trong cung ḷng của một trinh nữ. Lễ Giáng Sinh luôn luôn nhắc nhở chúng ta về lời quả quyết này.
 

TÔN TRỌNG QUYỀN SỐNG BẤT KHẢ XÂM PHẠM

 

38. Sự nh́n nhận nhân phẩm con người đ̣i hỏi chúng ta phải tôn trọng, bênh vực và thăng tiến các quyền lợi của con người. Đây là quyền tự nhiên, phổ quát và bất khả xâm phạm. Không một ai, cho dù là cá nhân, đoàn thể, ngay cả quyền bính quốc gia, không một ai có thể sửa đổi và càng không thể loại bỏ các quyền lợi ấy, v́ nó từ Thiên Chúa mà đến.
 

Bản chất bất khả xâm phạm của nhân vị này là phản ảnh của bản chất không thể xúc phạm tuyệt đối của Thiên Chúa; và v́ thế không ai có thể phạm đến mạng sống con người. Nói đến nhân quyền, thí dụ quyền được sức khỏe, quyền có chỗ ở, có việc làm, quyền lập gia đ́nh, quyền học hành, nhưng thật sai lầm và hăo huyền khi nói đến nhân quyền như người ta thường nói, mà lại không cương quyết bênh vực quyền sống như một quyền lợi bậc nhất, v́ nó là nguồn gốc và điều kiện cho tất cả mọi quyền lợi khác của con người.
 

Giáo hội không bao giờ chịu bó tay trước bất cứ xâm phạm nào đến quyền sống là quyền của mọi người, dù bởi tư nhân hay chính quyền. Chủ thể của quyền lợi ấy, chính là con người, con người ở bất cứ thời điểm nào trong cuộc sống từ lúc mới được thụ thai cho đến khi tắt thở; và trong tất cả mọi trạng thái khỏe mạnh cũng như bệnh tật, lành mạnh cũng như tàn phế, giàu có cũng như nghèo hèn. Công đồng Vaticanô II đă mạnh dạn nói lên: “Tất cả những ǵ đối nghịch với sự sống như giết người dứơi bất cứ h́nh thức nào, diệt chủng, phá thai, giết chết cách êm dịu, hoặc tự ư tự tử; tất cả những ǵ xâm phạm đến sự toàn vẹn của nhân vị con người, như cắt bỏ một phần thân thể, hành hạ thân xác hoặc tâm trí, làm áp lực tâm lư; tất cả những ǵ xúc phạm đến nhân phẩm, như những cảnh sống thấp kém dưới mức độ phải có của con người, giam cầm vô cớ, lưu đầy, nô lệ, măi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ con; kể cả những t́nh trạng lao động khiến cho nhân công hoàn toàn trở thành công cụ cho lợi lợc, chứ không được coi như con người tự do và có trách nhiệm; tất cả những điều nói trên và những điều tương tự đều được coi là tội lỗi. Trong khi làm thối nát nền văn minh nhân loại, tất cả những điều trên lại trở thành nguy hại cho chính những kẻ chủ động hơn là đối với những người chịu sự thiệt tḥi đó. Hơn nữa, nó c̣n xúc phạm nặng nề đến danh dự của Đấng Tạo Hóa”.137
 

Nếu mỗi người chúng ta đều có sứ mệnh và trách nhiệm nh́n nhân phẩm của con người và bênh vực quyền sống của con người, th́ đồng thời có một số tín hữu giáo dân được kêu gọi làm việc này với một tước hiệu riêng biệt: đó là các bậc phụ huynh, các nhà giáo dục, Bác sĩ và y tá, và tất cả những ai nắm quyền kinh tế và chính trị.
Khi đón tiếp với một ḷng yêu mến và độ lượng tất cả mọi người, nhất là những người thất thế và đau yếu, Giáo hội hôm nay đang sống thời điểm quan trọng nhất của sứ mạng ḿnh, một sứ mạng càng khẩn thiết v́ mỗi ngày con người càng chạy theo cái gọi là Văn hóa chết. Bởi v́, “Giáo hội tin chắc chắn rằng sự sống con người, cho dù là yếu đau bệnh tật, luôn luôn vẫn là một ơn lạ lùng của ḷng từ bi Thiên Chúa. Để chống với tính ích kỷ và bi quan đang ám ảnh thế giới, Giáo hội bênh vực sự sống và trong mỗi mạng sống con người, Giáo hội biết khám phá ra sự sáng chói của tiếng “Vâng” tiếng “Amen” là chính Đức Kitô (2 Cor. 1:19; Ap. 3:14). Để đáp lại tiếng “không” đang xâm chiếm và gieo sầu khổ cho con người và thế giới, Giáo hội nói “có” sống động, và như thế Giáo hội bênh vực con người và thế giới chống lại với những kẻ đe dọa và phạm đến sự sống”.
138 Người tín hữu giáo dân, hoặc v́ ơn gọi hay v́ nghề nghiệp, phải trực tiếp chịu trách nhiệm đón nhận sự sống, phải làm cho tiếng “Vâng” của Giáo hội chấp nhận sự sống, được thực hiện một cách hiệu quả.
 

Nhờ sự phát triển mau lẹ của các ngành sinh-vật-học và Y-khoa, song song với tiến bộ lạ lùng của khoa học, hiện giờ chúng ta phải đương đầu với nhiều vấn nạn mới v́ con người có khả năng làm những điều mới lạ đối với sự sống con người. Con người thời nay, không những có khả năng “quan sát”, hơn nữa c̣n có thể nghiên cứu cách tổng quát cách kiểm soát sự sống con người ngay từ giây phút đầu tiên và qua các giai đoạn phát triển của nó.
 

Lương tâm luân lư của nhân loại không thể đứng nh́n như kẻ bàng quang trước những bước tiến dài do một quyền lợi kỹ thuật ngày càng thao túng trong lănh vực truyền sinh, và trong những giai đoạn đầu của sự phát triển nhân vị con người.
 

Có lẽ ngày nay hơn bao giờ hết trong địa hạt này, sự khôn ngoan là cái neo cứu rỗi độc nhất để con người trong công cuộc sưu tầm khoa học và áp dụng có thể hành động theo lư trí và t́nh thương, nghĩa là biết tôn trọng nhân phẩm bất khả xâm phạm của con người ngay từ buổi đầu cuộc sống của nó. Muốn được như vậy, khoa học và kỹ thuật với những phương tiện hợp pháp, phải dấn thân bênh vực sự sống và chữa trị các bệnh tật ngay từ ban đầu, và từ chối – v́ danh dự của công tŕnh khảo cứu – không can thiệp cách nào để đưa đến hậu quả biến đổi khả năng sinh sản của cá nhân và của nhân loại.139
 

Các tín hữu giáo dân v́ chức nghiệp trên nhiều phương diện phải dấn thân trong lănh vực khoa học hay kỹ thuật, cũng như những lănh vực Y-khoa, xă hội, lập pháp hay kinh tế, tất cả phải có can đảm đón nhận “sự thách thức” do các vấn đề mới của nền luân lư sự sống gây ra. Các Nghị phụ Thượng hội đồng đă quả quyết: “Người Kitô hữu phải thi hành trách nhiệm như chủ chăn chứ không phải như nô lệ của khoa học và kỹ thuật. Trong viễn tượng “thách đố và luân lư tung ra do quyền năng ghê gớm của kỹ thuật mới, đang đe dọa không những các qyền lợi căn bản của con người, mà ngay cả bản chất sự sống của nhân loại. Người giáo dân, nhờ sự giúp đỡ của toàn thể Giáo hội, phải nhận lấy trọng trách để làm cho văn hóa giữ được các nguyên tắc của một nền nhân bản xác thực nguyên vẹn; như thế việc cổ vơ và bênh vực nhân quyền mới có được một nền móng đầy sinh lực và vững chăi ngay trong bản chất của nó, một bản chất đă được mặc khải cho con người qua Phúc Âm.140
 

Ngày nay là lúc cấp bách mọi người phải tỉnh thức trước hiện tượng tập trung quyền lực kỹ thuật. V́ sự tập trung này có dụng ư tráo trở không những bản chất của sự sống mà ngay cả nội tại của lương tâm con người và cách sống của nó, khiến cho việc kỳ thị và khinh rẻ nhiều dân tộc trở thành trầm trọng.
 

TỰ DO KÊU CẦU DANH CHÚA

 

39. Tôn trọng phẩm giá con người đó là bênh vực và cổ vơ tôn trọng nhân quyền, và đồng thời đ̣i hỏi phải nh́n nhận phạm vi tôn giáo của con người. Đây không chỉ đơn giản là một đ̣i hỏi “tín ngưỡng”, nhưng là một đ̣i hỏi tự nó không thể bị tiêu diệt của thực thể con người. Mối liên quan với Thiên Chúa là một yếu tố cấu tạo nên “bản chất” và “cuộc sống” con người: Chính trong Thiên Chúa mà “chúng ta được sống, được cử động và được hiện hữu” (Acts. 17:28). Nếu không phải mọi người đều chấp nhận chân lư, th́ ít nữa ai chấp nhận đều có quyền buộc kẻ khác phải tôn trọng Đức tin của họ, tôn trọng sự lựa chọn đời sống của họ, hoặc cá nhân hay đoàn thể. Đó là quyền tự do lương tâm và tự do tôn giáo, công nhận quyền lợi này là cả một lợi ích cao cả nhất và là một trong những bổn phận nặng nề nhất của mỗi dân tộc, nếu dân tộc này muốn bảo đảm lợi ích của cá nhân và của xă hội: “Tự do tôn giáo, một đ̣i hỏi không thể phá hủy được của phẩm giá con người, là viên đá góc để xây dựng ṭa nhà nhân quyền, và là một yếu tố không thể thay thế được của lợi ích con người và xă hội, và làm cho con người được phát triển toàn vẹn. Bởi đó tự do tuyên xưng và hành đạo của cá nhân hay của cộng đồng là một yếu tố căn bản để con người chung sống ḥa b́nh... Quyền tự do tôn giáo về mặt dân luật và xă hội, v́ nó thuộc phạm vi thâm sâu của tinh thần, nên nó là điểm tham chiếu, một cách nào đó, nó trở nên thước đo lường của các quyền lợi căn bản khác”. 141
 

Thượng hội đồng Giám mục đă không lăng quên một số đông các anh chị em chưa được hưởng quyền tự do và đang phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn, với nạn bỏ rơi, với đau khổ và bắt bớ, và có khi phải chết v́ Đức tin. Một số đông trong họ là giáo dân Truyền bá Phúc Âm và làm chứng nhân đời sống Công giáo trong đau khổ và tử đạo, đó là tột đỉnh của việc tông đồ của các môn đệ Chúa Kitô, cũng như t́nh yêu của Chúa Giêsu đến hy sinh mạng sống phát sinh nguồn mạch đầy sức sống lạ thường để xây dựng Giáo hội. Cây nho thần bí như thế tỏ ra rất đầy sinh khí như Thánh Augustinô nói: “Cây nho này như các Tiên tri và chính Chúa đă loan báo trước, tỏa ra trên khắp thế giới cành cây của nó nặng trĩu hoa trái và nó ngày càng thêm sinh lực nếu càng được tưới thêm bằng máu tử đạo”. 142
 

Toàn thể Giáo hội hết ḷng biết ơn về thí dụ và ơn này. Kitô-hữu đă hy sinh mạng sống để đem lại một lư do đổi mới nghị lực đời sống thánh thiện và tông đồ. V́ thế các Nghị phụ Thượng hội đồng nhận thấy có bổn phận cách riêng “phải cám ơn các người giáo dân đang sống kiên cường chứng nhân Đức Tin, trung thành hợp nhất với Giáo hội, dầu phải bị chèn ép và thiếu thốn Linh mục. Họ liều bỏ tất cả ngay cả mạng sống. Như thế giáo dân đă làm chứng cho đặc tính căn bản của Giáo hội, là: Giáo hội sinh bởi ơn nghĩa Chúa và tỏ ra cao cả trong máu Tử đạo”. 143
 

Tất cả những ǵ chúng ta bàn đến về việc tôn trọng phẩm giá con người, về việc nh́n nhận nhân quyền, mỗi người cũng như mỗi Kitô hữu đều có trách nhiệm. Nhưng chúng ta cũng phải biết rằng vấn đề này có tầm mức quốc tế: v́ là một vấn đề liên hệ đến đoàn người đông đảo, có khi cả một dân tộc bị cướp đoạt quyền lợi căn bản. Những h́nh thức bất b́nh đẳng này đang phát triển giữa các “thế giới” khác nhau đă bị tố cáo rành mạch trong Thông điệp “Sollicitudo rei socialis” (Mối lo ngại về t́nh trạng xă hội).
 

Việc tôn trọng nhân vị con người vượt trên đ̣i hỏi luân lư cá nhân, v́ nó là một tiêu chuẩn nền tảng, là cột trụ, là nền móng xây cơ cấu xă hội, v́ mục tiêu xă hội là con người.
Như thế, trọng trách phục vụ xă hội có liên quan mật thiết với trọng trách phục vụ con người. Đó là định nghĩa sứ mệnh đem đạo vào đời mà các tín hữu giáo dân được gọi để hoàn thành theo cách thế riêng biệt của ḿnh.
 

GIA Đ̀NH: NƠI ĐẦU TIÊN ĐỂ HỌC DẤN THÂN LÀM VIỆC XĂ HỘI

 

40. Nhân vị con người đă sẵn có tầm vóc xă hội trong cơ cấu tự nhiên của nó, v́ tự thâm tâm, nó được kêu gọi để sống hiệp nhất và hiến thân cho kẻ khác: “Thiên Chúa, lo lắng săn sóc mọi người như một hiền phụ đă muốn cho mọi người thành một gia đ́nh và đối đăi với nhau như anh em.”144 Như thế, xă hội là kết quả là dấu chỉ của đặc tính xă hội của con người, nó chỉ thành một thực thể hoàn toàn khi nào nó trở thành một công đồng nhân vị.
 

V́ thế người tín hữu giáo dân dấn thân làm việc tông đồ trong trật tự trần thế có nghĩa là phục vụ cá nhân con người, cá nhân duy nhất và không ai có thể thay thế được, cũng có nghĩa là phục vụ tất cả mọi người.
 

Vợ chồng và gia đ́nh, đó là biểu hiệu đầu tiên, nguyên thủy của tầm vóc xă hội con người. “Nhưng Thiên Chúa không dựng nên con người đơn độc: từ nguyên thủy, “Ngài dựng nên một nam một nữ” (Gn. 1:27). Xă hội gồm một nam một nữ đó là biểu lộ đầu tiên của sự hiệp thông người với người”.145 Chúa Giêsu đă để ư đem lại phẩm giá cho vợ chồng và nền tảng vững chắc cho gia đ́nh (Mt. 9: 3-9) Thánh Phaolô đă cho chúng ta thấy mối liên quan sâu xa giữa hôn nhân với mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo hội. (Eph. 5:22 và 6:4; Col. 3:18-21; 1Pt. 3:1-7).
 

Vợ chồng và gia đ́nh là nơi đầu tiên để các tín hữu giáo dân dấn thân vào xă hội. Nhưng hành động dấn thân này chỉ có ư nghĩa khi họ xác tín về giá trị duy nhất và không thay thế được của gia đ́nh trong việc phát huy xă hội và Giáo hội. Gia đ́nh là chiếc nôi của sự sống và t́nh thương, trong đó con người “chào đời” và “lớn lên”. Gia đ́nh v́ thế là tế bào nền tảng của xă hội. Cộng đồng bé nhỏ naỳ phải được lo lắng săn sóc đặc biệt, nhất là mỗi khi ḷng ích kỷ của con người, các chiến dịch chống sinh sản, và t́nh cảnh khó nghèo khốn khổ về phương diện vật chất, văn hóa và luân lư. Nhất là tâm trạng t́m kiếm lạc thú, chạy đua tiêu thụ làm cho khô cạn các nguồn mạch sự sống, trong lúc các ư thức hệ, các hệ thống khác nhau, cũng như các h́nh thức bất cần sự sống hay thiếu săn sóc phá hoại vai tṛ giáo dục riêng của gia đ́nh.
 

Việc tông đồ của các tín hữu giáo dân trước tiên là làm cho gia đ́nh ư thức được nguyên tính của ḿnh như nền tảng căn bản đầu tiên của xă hội, và ư thức được vai tṛ của ḿnh trong xă hội, để mỗi ngày mỗi đóng vai tṛ chủ động và trách nhiệm cho sự trưởng thành của ḿnh và tham gia vào đời sống xă hội. Như vậy gia đ́nh có thể và phải đ̣i hỏi mỗi người, nhất là chính quyền, phải tôn trọng các quyền lợi của ḿnh để cứu văn ḿnh và cứu văn xă hội.
 

Tất cả những điều viết về gia đ́nh có liên quan đến sự phát triển xă hội 146 trong bức Tông huấn về Gia đ́nh (Familiaris consortio), và những ǵ Giáo hội đă nói trong Thượng hội đồng Giám mục năm 1980 trong “Hiến chương các Quyền lợi của Gia đ́nh”, đă trở thành một chương tŕnh hoạt động đầy đủ và có cơ cấu cho tất cả các tín hữu giáo dân theo danh nghĩa mỗi người đang lưu tâm cổ vơ các giá trị và các đ̣i hỏi của gia đ́nh.
 

Chương tŕnh này càng phải cấp tốc thực hiện một cách quyết liệt v́ các đe dọa làm lung lạc và phá tan gia đ́nh ngày càng trầm trọng, cũng như ngày càng trở nên nặng nề và hệ thống hóa chiều hướng muốn loại bỏ gia đ́nh và tiêu diệt vai tṛ quan trọng của nó đối với xă hội.
Như kinh nghiệm cho thấy, văn minh và t́nh liên đới các dân tộc một phần lớn tùy thuộc ở phẩm cách tốt xấu của gia đ́nh. Như thế việc tông đồ gia đ́nh mang một giá trị xă hội không thể so sánh được. Giáo hội rất xác tín về điều này, biết rằng “tương lai của nhân loại phải đi qua gia đ́nh”.
147
 

ĐỨC ÁI LÀ LINH HỒN, LÀ SỰ NÂNG ĐỠ CỦA T̀NH LIÊN ĐỚI

 

41. Việc phục vụ xă hội diễn tả và thực hiện bằng nhiều cách thế khác nhau: có những cách tự do riêng tư hoặc được qui định theo một thể chế, có việc nhằm phục vụ từng nhóm người hoặc từng cộng đồng.
 

Toàn thể Giáo hội từ bản chất của ḿnh đă được trực tiếp kêu gọi phục vụ Đức Ái: “Giáo hội thánh thiện đặt bữa ăn thân t́nh “Agape” đi liền với bữa Tiệc Thánh Thể để biểu lộ sự hợp nhất hoàn toàn trong t́nh yêu thương chung quanh Chúa Kitô. Như vậy, bất cứ thời đại nào, người ta cũng nhận ra Giáo hội nhờ t́nh yêu này, và Giáo hội đă tự đảm nhận những công tác bác ái như là nhiệm vụ và quyền lợi bất khả di nhượng của ḿnh, dầu Giáo hội vẫn hân hoan trước những sáng kiến của người khác. V́ thế, Giáo hội đặc biệt đề cao ḷng thương xót đối với người nghèo đói bệnh tật, cũng như những công tác mệnh danh là từ thiện và tương trợ để xoa dịu nỗi thống khổ của nhân loại”. 148 Đức bác ái đối với anh em, thực hiện dưới h́nh thức các việc từ thiện thể xác hay tinh thần, h́nh thức đă có từ xưa nhưng vẫn luôn luôn mới mẻ, đó là nội dung cấp thời thường xuyên của hoạt động đem đạo vào đời của các tín hữu giáo dân. Khi thi hành bác ái đối với anh em, người tín hữu giáo dân sống và nêu cao sự tham gia vào vương quyền của Đức Kitô, nghĩa là tham gia vào quyền năng của Con Người là Đấng “không đến để hưởng thụ nhưng để phục vụ” (Mt. 10:45). Họ sống và nêu cao vương quyền một cách rất đơn giản, theo tầm mức của mọi người và mọi thời đại, v́ Đức Ái là một ơn huệ cao cả nhất Chúa Thánh Thần ban để xây dựng Giáo hội (1 Cor. 13:13) và để đem lại lợi ích cho nhân loại. Đức Ái đem lại sinh lực và nâng đỡ cho t́nh liên đới sống động, lưu tâm đến mọi nhu cầu của con người.
 

Một Đức Ái như thế không chỉ được nhận thức do riêng cá nhân mà c̣n cần thiết phải được nhân thức do các đoàn thể và các cộng đồng nữa. Không một ai cũng không một cái ǵ có thể thay thế nó được, cho đến cả các thể chế hay sáng kiến công cộng, là những tổ chức chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của một dân tộc thôi, những nhu cầu thường rất trầm trọng và lớn lao trong thời đại này. Ngược lại, Đức Ái này càng khẩn thiết hơn, khi mà các thể chế từ thiện đă trở nên quá phúc tạp trong tổ chức và có tham vọng nắm trong tay quyền quản lư hết tất cả mọi phạm vi. Cuối cùng trở nên vô hiệu bởi tổ chức quan liêu, bởi tinh thần làm việc quan lại, bởi ḷng tham lợi quá đáng, và rồi không c̣n ai lưu tâm đến nữa.
 

Chính trong hoàn cảnh này đă xuất hiện và lan tràn nhất là trong xă hội có tổ chức, những h́nh thức tự nguyện phục vụ công tác. Tự nguyện là cách làm tông đồ mà người tín hữu giáo dân, nam cũng như nữ đóng vai tṛ chính yếu. Họ xả thân quên ḿnh cho những người anh em từng bị các tổ chức tự cho ḿnh là v́ xă hội bỏ rơi họ.
 

ĐỜI SỐNG XĂ HỘI: CHO MỌI NGƯỜI VÀ V̀ MỌI NGƯỜI

 

42. Đức Ái để yêu thương và phục vụ con người không được tách khỏi công lư. Cả hai theo cách riêng biệt của ḿnh đ̣i buộc mọi người phải hoàn toàn công nhận thực sự các quyền lợi của con người, v́ xă hội với các cơ cấu và thể chế được đặt ra v́ con người.149 Để đem đời sống Kitô hữu vào trật tự trần thế, nghĩa là “đem đạo vào đời” theo ư nghĩa là phục vụ con người và xă hội, các tín hữu giáo dân tuyệt đối không thể từ chối tham gia vào “chính trị”, nghĩa là vào các hoạt động nhiều sắc thái, kinh tế, xă hội, lập pháp, hành chánh văn hóa, có mục đích cổ vơ công ích một cách có cơ chế. Các Nghị phụ Thượng hội đồng đă nhiều lần quả quyết điều này là mọi người và mỗi người có quyền lợi và bổn phận phải tham gia vào chính trị dưới nhiều h́nh thức khác nhau và bổ túc cho nhau, trên nhiều mức độ khác nhau cũng như trong các bổn phận và trách nhiệm khác nhau. Chúng ta thường nghe những nhà cầm quyền, Quốc hội, giai cấp cai trị và các đảng phái chính trị bị tố cáo là những kẻ lợi dụng thời cơ, tôn thờ quyền bính, íich kỷ tham nhũng. Chúng ta cũng thấy dư luận quần chúng đó đây bảo chính trị chỉ là nơi vô luân lư. Tất cả lời khinh khi này không cách nào bào chữa được cho người Công giáo trốn tránh chính trị hay nghi ngờ việc chung.
 

Ngược lại, những lời sau đây của Công đồng Vaticanô II rất có ư nghĩa: “Giáo hội ca ngợi và quư trọng việc làm của những người, v́ công ích mà dấn thân phục vụ con người và lănh nhận gánh nặng của trách nhiệm này”. 150
 

Một đường lối chính trị v́ dân v́ nước luôn luôn lấy công ích làm tiêu chuẩn căn bản, v́ công ích là ích lợi của mọi người và của từng người, ích lợi cung ứng và được bảo đảm để mọi cá nhân cũng như đoàn thể tự do chấp nhận với tinh thần trách nhiệm: “V́ thế các tổ chức chính trị chỉ hiện hữu v́ công ích. Chính công ích là lư do tồn tại, ư nghĩa và là căn bản pháp lư cho các tổ chức chính trị. Công ích nơi đây bao gồm tất cả những điều kiện của đời sống xă hội; nhờ những điều kiện này, cá nhân, gia đ́nh và đoàn thể có cơ hội phát triển trọn vẹn và dễ dàng hơn”. 151
 

Hơn nữa, một đường lối chính trị v́ dân v́ nước phải chọn một tôn chỉ thủy chung là bênh vực và cổ vơ công lư, được hiểu như một “đức tính” mọi người phải có, và cũng là một “sức mạnh” luân lư nâng đỡ bất cứ ai cố gắng hỗ trợ các quyền lợi và nghĩa vụ của con người và mỗi người trên nền tảng nhân phẩm.
 

Kẻ thi hành quyền bính chính trị phải lấy tinh thần phục vụ làm nền tảng. Tinh thần phục vụ này với khả năng và hiệu năng trong việc lănh đạo là điều rất cần thiết để làm cho các hoạt động của các nhà chính trị được “sáng suốt” và “trong sạch” như dân chúng thường đ̣i hỏi một cách rất hợp lư. Muốn thế cần phải thẳng thắn tranh đấu diệt trừ hết mọi dụng ư toan tính như vận động xoay trở, gian trá, nói láo, thụt công quỹ để trục lợi hay mua chuộc, sử dụng các phương cách mờ ám và bất hợp pháp để chiếm đoạt bằng mọi giá duy tŕ và mở rộng quyền hành.
 

Các tín hữu giáo dân dấn thân vào chính trị phải thẳng thắn tôn trọng sự tự lập của các thực tại trần thế theo nghĩa của Hiến chế Vui mừng và Hy vọng: “... Điều rất quan trọng là cần nhận thức chính xác về mối tương quan giữa cộng đồng chính trị và Giáo hội, nhất là trong một xă hội gồm nhiều thành phần. Cũng cần phải phân biệt minh bạch giữa hành động của các tín hữu hoặc cá nhân hoặc đoàn thể với danh nghĩa công dân dưới sự hướng dẫn của lương tâm Công giáo, và những hành động của các tín hữu khi họ nhân danh Giáo hội và hợp nhất với các vị chủ chăn của họ. V́ căn cứ vào vai tṛ và thẩm quyền của ḿnh, Giáo hội không cách nào bị đồng hóa với một tập thể chính trị và cũng không hề cấu kết với bất cứ hệ thống chính trị nào v́ Giáo hội vừa là dấu chỉ, vừa là đảm bảo cho tính cách siêu việt của con người”. 152
 

Đồng thời các tín hữu giáo dân c̣n có nghĩa vụ cấp bách làm chứng nhân cho các giá trị con người và các giá trị Phúc Âm liên kết mật thiết với chính các hoạt động chính trị, như sự tự do và công b́nh, t́nh liên đới và ḷng tận tụy trung thành, vô vị lợi đối với công ích, t́nh yêu đặc biệt với người nghèo khó và thấp hèn. Muốn thế các tín hữu giáo dân luôn luôn phải t́m nghị lực thiêng liêng trong việc tham gia thực sự vào đời sống Giáo hội và lấy lư thuyết xă hội của Giáo hội làm ánh sáng chỉ đạo. Trong công việc nặng nề này họ cần có các cọng đồng Công giáo và các vị chủ chăn theo dơi và hỗ trợ. 153
 

Một đường lối chính trị nhằm phát triển con người phải cần đến t́nh liên đới làm phương tiện và kiểu mẫu. T́nh liên đới này đ̣i hỏi sự tham gia tích cực và ư thức trách nhiệm của mọi người vào đời sống chính trị, từ mỗi một người công dân đến các đoàn thể khác nhau, từ các nghiệp đoàn đến các đảng phái, tất cả chúng ta và mỗi người trong chúng ta đều là kẻ thừa hưởng và là người tham gia tích cực vào chính trị. Trong t́nh trạng này, như Ta đă viết trong Thông điệp “Nỗi lo âu về t́nh cảnh xă hội” (Sollicitudo), t́nh liên đới không phải là một t́nh cảm thương hại mơ hồ hay là một xúc cảm động ḷng trắc ẩn nông cạn trước bao nhiêu khốn khổ của nhiều ngừơi xa gần. Ngược lại, đây là một sự dấn thân quyết liệt vững chăi, bền chí để mọi người và mỗi người, để chúng ta tất cả, mang lấy trách nhiệm thực sự cho tất cả”. 154
 

Trong thế giới hôm nay, t́nh liên đới chính trị phải vượt khỏi ranh giới quốc gia hay một khối quốc gia, nó phải bao gồm cả một chân trời mở rộng trên biên cương lục địa hay thế giới.
 

Kết quả của hoạt động chính trị liên đới là Ḥa b́nh. Đó là điều mọi người ước vọng nhưng c̣n xa vời. Các tín hữu giáo dân không thể khoanh tay ngồi nh́n như kẻ bàng quan lười biếng trước những ǵ phá hoại hay làm tổn thương ḥa b́nh: như vũ lực và chiến tranh, tra tấn hay khủng bố, trại tập trung, quân sự hóa chính trị, thi đua vơ trang, đe dọa nguyên tử. Ngược lại, là môn đệ Đức Giêsu Kitô “Vua Ḥa B́nh” ((Is. 9:5) “Ḥa b́nh của chúng ta” (Eph. 2:14) các tín hữu giáo dân phải nhận lănh bổn phận làm “kẻ kiến tạo ḥa b́nh” (Mt. 5:9) bằng một cuộc sống trở về với Chúa và bằng các hoạt động v́ chân lư, v́ tự do, v́ công b́nh và bác ái là những nền móng vững chắc của ḥa b́nh.155
 

Hợp tác với những ngừơi thật ḷng đi t́m ḥa b́nh và sử dụng những cơ quan riêng biệt và các thể chế quốc gia và quốc tế, người tín hữu giáo dân phải cổ vơ một nền giáo dục căn bản để chống lại với một nền văn hóa ích kỷ, hận thù để phát huy nền văn hóa liên đới trên mọi b́nh diện. V́ sự liên đới này “là con đường của ḥa b́nh và của phát triển”.156 trong viễn tượng này, các Nghị phụ Thượng hội đồng đă kêu mời người Công giáo phải tống khứ mọi h́nh thức vũ lực, cổ vơ thái độ đối thoại, ḥa b́nh và kêu mời họ dấn thân để kiến tạo một trật tự xă hội và quốc tế công b́nh.157
 

ĐẶT CON NGƯỜI VÀO TRUNG TÂM ĐIỂM CỦA ĐỜI SỐNG KINH TẾ XĂ HỘI

 

43. Điểm hoạt động căn bản của việc phục vụ xă hội của tín hữu giáo dân, nằm tại vấn đề kinh tế xă hội; ch́a khóa của vấn này là tổ chức lao động.
Tính cách trầm trọng hiện tại của vấn đề này, theo cái nh́n chung của sự phát triển và dựa trên đề nghị giải quyết của học thuyết xă hội của Giáo hội, mà Ta mới nhắc lại trong Thông điệp “Nỗi lo âu về t́nh cảnh xă hội” (Sollicitudo). Ta ước ao tất cả mọi người hăy tham khảo lại nhất là các tín hữu giáo dân.
 

Trong các điểm quan trọng của học thuyết xă hội của Giáo hội, có nguyên tắc này: mọi người đều được quyền hưởng của cải trần gian theo ư định của Thiên Chúa. Những thứ này được ban cho con người và mỗi người là phương tiện để phát triển một đời sống làm người đúng mức. Tư sản là sự thể hiện mục đích ấy và c̣n có công dụng xă hội tự trong bản tính nó. Một cách cụ thể, lao động của đàn ông hay đàn bà là dụng cụ rất thông thường, rất cần thiết để phát triển đời sống kinh tế, dụng cụ này là một quyền lợi và một nghĩa vụ đối với mỗi người. Tất cả những điều này thuộc về sứ mệnh của người tín hữu giáo dân một cách đặc biệt. Mục đích và tiêu chuẩn của sự hiện diện và hoạt động của họ được Công đồng Vaticanô II đúc kết như sau: “Ngay trong đời sống kinh tế xă hội, phẩm giá cũng như ơn gọi toàn diện của con người và lợi ích của toàn thể xă hội phải được tôn trọng và thăng tiến. V́ con người là tác giả, là tâm điểm và mục đích của tất cả đời sống kinh tế xă hội”.158
 

Giữa bao nhiêu biến đổi của thế giới lao động và kinh tế bị đảo lộn, anh em tín hữu giáo dân phải là kẻ tiền phong đứng ra t́m các giải pháp cho nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng, tranh đấu để chấm dứt các bất công do các tổ chức bất công của lao động, cố gắng làm cho nơi làm việc trở thành một nơi sống của cộng đồng nhân vị được kính trọng v́ đặc tính quyền lợi tham gia của các nhân vị, và phải hết ḿnh phát triển những mối giây liên đới mới giữa những anh em cùng làm chung một việc, giúp sáng kiến về h́nh thức kinh doanh mới, và thúc đẩy duyệt lại các hệ thống thương mại, tài chánh và trao đổi kỹ thuật.
 

Để thực hiện điều này, các tín hữu giáo dân phải chu toàn bổn phận theo khả năng nghề nghiệp một cách ngay thẳng, với tinh thần Công giáo như là phương tiện thánh hóa bản thân,159 theo lời chỉ dạy của Công đồng: “Nhờ việc làm, con người theo lệ thường là có ư nuôi sống ḿnh và gia đ́nh, liên kết với anh em và phục vụ họ, có thể thực thi bác ái đích thực và góp công vào việc kiện toàn công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa. Hơn nữa, chúng tôi cho rằng nhờ việc làm của ḿnh, con người cộng tác vào chính công cuộc cứu rỗi của Chúa Giêsu Kitô, Đấng đă nâng cao giá trị của việc làm khi Ngài làm việc với chính hai bàn tay của ḿnh tại Nagiarét”.160
 

Đi đôi với đời sống kinh tế xă hội, ngày nay lại xuất hiện thêm vấn đề ngày càng gay go, đó là vấn đề “Môi sinh” (Ecological). Không ai chối căi được là con người đă nhận lănh bởi Thiên Chúa trách nhiệm “chế ngự” các tạo vật và “vun trồng mảnh vườn” thế giới. Những nghĩa vụ này con người phải chu toàn với một ḷng tôn trọng h́nh ảnh của Thượng Đế mà họ đă lănh nhận với t́nh yêu và lư trí, phải có trách nhiệm về các ơn Chúa đă ban tràn trề và c̣n tiếp tục ban cho họ. Con người làm chủ một ơn mà họ phải truyền lại cho các thế hệ mai sau, ơn ấy phải làm cho nó tốt đẹp hơn nữa nếu có thể. V́ các thế hệ này cũng là những người được quyền nhận lănh các ân huệ của Chúa: “Việc chế ngự thụ tạo Thiên Chúa đă ban cho người... không phải là một quyền độc đoán, và chúng ta không thể nói đến tự do “sử dụng và lợi dụng” hoặc sắp đặt sự vật như ư ḿnh muốn. Khi Thiên Chúa cấm Adong và Evà “ăn trái cấm” (Gn. 2:16-17), điều ấy có nghĩa là trong khuôn khổ các tạo vật hiện hữu... Chúng ta không phải chỉ vâng theo luật lệ luân lư không thể bỏ qua các nhận xét liên quan đến việc sử dụng các yếu tố thiên nhiên, đến việc phải tái tạo các nguồn tài nguyên và hậu quả của một nền kỹ nghệ vô trật tự. Một lần nữa các nhận xét này đề nghị với lương tâm chúng ta phải lưu ư đến b́nh diện luân lư của phát triển”.161
 

PHÚC ÂM VĂN HÓA VÀ CÁC NỀN VĂN HÓA CỦA CON NGƯỜI

 

44. Việc phục vụ con người và xă hội được diễn tả và thực hiện qua việc tạo nên và truyền thông văn hóa, một trong nghĩa vụ nặng nề cho con người sống chung và tiến hóa của xă hội ngày nay. “Văn hóa” được Công đồng hiểu nghĩa như sau: “Theo nghĩa tổng quát, chữ “văn hóa” ám chỉ tất cả những ǵ con người dùng để trau giồi các tài năng của tâm hồn và thể xác; cố gắng chế ngự trái đất bằng hiểu biết và lao động; làm cho đời sống xă hội, đời sống gia đ́nh cũng như đời sống chính trị trở thành nhân đạo hơn nhờ sự tiến bộ trong các tập tục và định chế, sau hết diễn tả, thông truyền và bảo tồn những kinh nghiệm tinh thần và hoài băo lớn lao của các thời đại, để giúp cho nhiều người và toàn thể nhân loại tiến bộ hơn”. 162 Theo nghĩa này, văn hóa phải được xem như là của chung của mỗi dân tộc, là sự diễn tả phẩm giá, tự do và óc sáng tạo của họ, và là chứng tá chặng đường lịch sử. Chỉ khi nào nó đi vào ḷng và qua một nền văn hóa, Đức tin Công giáo thực sự tham dự vào lịch sử và kiến tạo lịch sử. Trước một nền văn hóa xem ra lạc xa Đức tin Công giáo và có khi trái ngược với các giá trị nhân bản, 163 cũng như đứng trước một thứ văn hóa khoa học và kỹ thuật là văn hóa bất lực để trả lời cho những khát vọng chân lư và điều thiện đang nung nấu tâm hồn con người, Giáo hội rất ư thức bổn phận cấp bách, nhất là về phương diện mục vụ, phải lưu tâm đặc biệt đến văn hóa.
 

V́ thế Giáo hội yêu cầu các tín hữu giáo dân phải hiện diện một cách can đảm và với óc sáng tạo thông minh, trong các chức vụ quan trọng của văn hóa như học đường, Đại học, trung tâm nghiên cứu nhân bản. Sự hiện diện này không chỉ có mục đích nh́n nhận hay thanh lọc các yếu tố của văn hóa hiện có bằng những phê b́nh khôn ngoan, mà c̣n có ư làm tăng giá trị của nó nhờ kho tàng phong phú của Phúc Âm và Đức tin Công giáo. Những điều Công đồng Vaticano II viết về khối liên lạc giữa Phúc Âm và văn hóa đều đúng với sự kiện lịch sử không thay đổi và đồng thời là một lư tưởng hoạt động thức thời và khẩn thiết. Đây là một chương tŕnh quan trọng Giáo hội phải đặc biệt chịu trách nhiệm nhất là các tín hữu giáo dân. “Tin Mừng của Chúa Kitô không ngừng đổi mới đời sống và văn hóa của con người đă sa ngă, chống lại và loại bỏ những sai lầm và tai họa phát sinh từ sức quyến rũ thường xuyên của tội lỗi luôn luôn đe dọa. Phúc Âm không ngừng tinh luyện và nâng cao phong hóa các dân tộc. Những đức tính của mọi thời đại và mọi dân tộc được Phúc Âm làm cho phong phú từ bên trong, được củng cố, bổ túc và tái tạo trong Chúa Kitô nhờ những ân huệ bởi Trời. Như thế, trong khi chu toàn bổn phận riêng, Giáo hội cũng đồng thời thúc đẩy và góp phần vào công cuộc phát triển văn hóa nhân loại, và nhờ hoạt động của ḿnh, ngay cả trong các nghi lễ phụng vụ, Giáo hội giáo dục cho con người đạt tới tự do nội tâm”. 164
 

Ở đây cũng nên nhắc lại những lời thật ư nghĩa Tông huấn của Đức Phaolô VI “Phải rao truyền Phúc Âm” (Evangelii nuntiandi) khi nhờ thần lực Sứ điệp của Thiên Chúa, mà Giáo hội rao truyền (Rm. 11:16; 1Cor. 1:18; 2:4), Giáo hội t́m cách cải hóa lương tâm cá nhân và lương tâm con người, cải hóa hoạt động, đời sống và cảnh vực thực tại của con người. Hiện giờ sinh hoạt của nhân loại biến đổi. Đối với Giáo hội, vấn đề không có nghĩa là rao giảng Phúc Âm cho từng vùng đất mỗi ngày càng rộng lớn, hoặc cho các dân tộc ngày càng đông đảo, nhưng là đạt đến và nhờ sức mạnh Phúc Âm chuyển hướng tiêu chuẩn phán đoán, các giá trị quyết định, các trọng tâm sinh hoạt, các đường hướng tư tưởng, các nguồn cảm hứng, và lối sống của nhân loại khi nó đối ngược với Lời Chúa và chương tŕnh cứu rỗi. Tóm lại: Phúc-âm-hóa không phải như một cách trang trí, một lớp sơn bên ngoài, nhưng bằng một cách sống chết, thấm tận xương tủy, nghĩa là Phúc-Âm-hóa các nền văn hóa của con người. Sự đổ vỡ giữa Phúc Âm và văn hóa đó là thảm kịch của thời đại chúng ta, và cũng đă là thảm kịch của thời đại xưa. V́ thế phải cố sức để thực hiện Phúc-Âm-hóa văn hóa, hay nói đúng hơn các nền văn hóa”. 165
 

Con đường hiện tại rất thuận lợi cho việc cấu tạo và trao đổi văn hóa là các phương tiện truyền thông xă hội. 166 Thế giới của truyền thông xă hội, nhờ sự phát triển mau lẹ của các phát minh và nhờ ảnh hưởng của nó bao gồm không gian và đồng thời sâu đậm trên tâm trạng và phong tục con người, nó đă trở thành một ranh giới mới cho sứ mệnh của Giáo hội. Đặc biệt trách nhiệm nghề nghiệp của các tín hữu giáo dân trong địa hạt này, hoặc là trách nhiệm với danh nghĩa cá nhân hay trách nhiệm với danh nghĩa các thể chế cộng đồng, bất cứ trên danh nghĩa nào, trách nhiệm họ phải được nh́n nhận với toàn giá trị của nó, và phải được nâng đỡ về mặt vật chất, tinh thần và mục vụ liên quan đến việc sử dụng các phương tiện truyền thông. Nghĩa là việc sản xuất chương tŕnh hay việc thâu nhận các chương tŕnh ấy, chúng ta cần phải giáo dục óc phê b́nh ưa chuộng sự thật và đồng thời hành động nhằm bênh vực tự do và tôn trọng phẩm gía con người, và hỗ trợ nền văn hóa chân thực của các dân tộc, bằng cách can đảm khước từ mọi h́nh thức độc quyền và tráo trở.
 

Trách nhiệm tông đồ của người tín hữu giáo dân không chỉ dừng lại ở vị thế bênh vực mà thôi: trên khắp mọi nẻo đường thế giới, ngay trong lănh vực báo chí, điện ảnh, phát thanh, truyền h́nh, Phúc Âm Cứu rỗi phải được truyền cho mọi người.
 

Chú thích:
103 – St Gregory the Great, Hom in Ez, II 1, 5: CCL 142, 211.
104 – Apostolicam Actuositatem, 16.
105 – John Paul II, Angelus talk (Aug 23, 1987): Insegnamenti, X 3 (1987), 240.
106 – Apostolicam Actuositatem, 18.
107 – Ibid., 19; cf. also ibid., 15; Lumen Gentium, 37.
108 – Canon 215.
109 – Lumen Gemtoi, 39.
110 – Cf. Ibid., 40.
111 - Apostolicam Actuositatem, 19.
112 – Cf., Lumen Gentium, 23.
113 – Ibid.
114 - Apostolicam Actuositatem, 23.
115 – Ibid., 20.
116 – Ibid., 24.
117 – Proposition 13.
118 – Cf. Proposition 15.
119 – John Paul II, Disourse in Loreto, Italy (April 10, 1985): AAS 77 (1985), 964.
120 – Lumen Gentium, 1.
121 – Ibid., 30.
122 - Apostolicam Actuositatem, 10.
123 – Evangeli Nuntiandi, 14: AAS 68 (1976), 13.
124 – John Paul II, Homily at the beginning of his ministry (Oct 22, 1978): AAS 70 (1978), 947.
125 – Proposition 10.
126 – Ad Gentes, 20; cf. also ibid., 37.
127 – Proposition 29.
128 – Cf., Ad Gentes, 21.
129 – Proposition 30b.
130 – Lumen Gentium, 5.
131 – Cf. Gaudium et Spes, 22.
132 – Ibid., 22.
133 – John Paul II, encyclical letter Redemptor Hominis, 14: AAS 71 (1979), 284-285.
134 – Gaudium et Spes, 40.
135 – Cf. Ibid., 12.
136 – “If we celebrate so solemnly the birth of Jesus, we do it so as to bear witness to the fact that each person is someone unique and unrepeatable. If humanitys statistics and arrangement, its politicl, economic and social systems as well as its simple possibilities, do not come about to assure man that he can be born, exist and work as a unique and unrepeatable individual, then bid farewell to al assurances. For Christ and because of him, the individual is always unique and unrepeatable; someone eternally conceived and given a special name” (John Paul II, First Christmas radio message: AAS 71 (1979), 66).
137 – Gaudium et Spes. 27.
138 – John Paul II, apostolic exhortation Familliaris Consortio, 30: AAS 74 (1982), 116.
139 – Cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction on Respect for Human Life in Its Origins and on the Dignity of Procreation: Reply to Certain Questions of the Day (March 11, 1987): AAS 80 (1988), 70-102.
140 – Proposition 36.
141 – John Paul II, Message for the World Day of Peace, (Dec 8, 1987): AAS 80 (1988), 278-280.
142 – St. Augustine, De Catech., XXIV, 44: CCL 46, 168.
143 – Proposition 32.
144 – Gaudium et Spes, 24.
145 – Ibid., 12.
146 – Cf. Familiaris Consortio, 42-48.
147 – Ibid., 85.
148 - Apostolicam Actuositatem, 8.
149 – For the relationship between justice and mercy, see John Paul II encyclical letter Dives in Misericordia, 12: AAS 72 (1980), 1215-1217.
150 – Gaudium et Spes. 75.
151 – Ibid., 74.
152 – Ibid., 76.
153 – Cf. Proposition 28.
154 – John Paul II encyclical letter Sollicitudo Rei Socialis, 38: AAS 80 (1988), 565-566.
155 – Cf. John XXIII, encyclical leltter Pacem in Terris: AAS 55 (1963), 265-266.
156 – Sollicitudo Rei Sociallis, 39.
157 – Cf. Proposition 26.
158 – Gaudium et Spes, 63.
159 – Cf. Proposition 24.
160 – Gaudium et Spes, 67.
161 – Sollicitudo Rei Socialis, 34.
162 – Gaudium et Spes, 53.
163 – Cf. Proposition 35.
164 – Gaudium et Spes, 58
165 – Evangelii Nuntiandi, 18-19.
166 – Cf. Proposition 37.